CHƯƠNG 1: MOT SO VAN ĐÈ LÝ LUẬN VE GIẢI QUYẾT VIỆC LAM VÀ QUY ĐỊNH CUA PHAP LUẬT VIỆT NAM VE GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM 1.Khái quát chung về việc làm và giải quyết việc làm 1. Khái niệm việc làm và giải quyết việc làm 1. Khải niệm việc lam Từ xa xưa, khi mới xuất hiện, con người đã phải lao động dé kiếm sống. Hoạt động lao động dé kiếm sống đối với con người không chỉ là những hành động sinh vật đơn thuần mà qua đó còn cải tạo con người, biến con người thành những sinh vật xã hội có ý thức, có khả năng tham gia vào các quan hệ xã hội, từ đó dần hình thành nên xã hội loài người.
Hoạt động lao động dé kiêm sông đó cua con người được gọi chung là việc làm. Cùng với sự phát triển của xã hội cũng như sự đa dạng của mỗi quốc gia mà khái niệm việc làm cũng có thê hiệu theo những nghĩa khác nhau. Tại hội nghị thống kê lao động quốc tế lần thứ 8 (1954) tại Gio ne vo, có đưa ra định nghĩa về việc làm. Định nghĩa này được ghi lại trong khuyến nghị về thống kê lao động về Quốc tế năm 1975.
Theo đó, những người có việc làm là những người thuộc một trong các loại sau đây: Thứ nhất là người đang làm một công việc cụ thé được trả lương có thé là lương ngày, lương tuần, lương tháng do hai bên thỏa thuận; thứ hai là người có một chỗ làm việc 6n định nhưng có thời gian không đi làm, tạm thời vắng mặt trong một thời kỳ cụ thé do: 6m dau, tai nạn lao động, tranh chấp lao động. Theo ngài phó cố van kinh tế Giang Muy — Tê (Văn phòng Lao động quốc tế) thì: “Việc làm có thé được định nghĩa như một tình trạng trong đó có sự trả công băng tiên hoặc hiện vật, có một sự tham gia tích cực, có tính chât cá nhân và trực tiêp vào nỗ lực sản xuât'”. Phó giáo sư Sô — nin và Phó tiên sỹ E. Ji — nop (Liên Xô cũ) lại quan niệm: “Việc làm là sự tham gia của người có khả năng lao động vào một hoạt động xã hội có ích trong khu vực xã hội hóa của sản xuât, trong học tập, trong công việc nội trợ, trong kinh tê phụ của nông trang viên”.
Tổ chức Lao động quốc tế (International Labour Organization - ILO) cũng coi việc khuyến nghị và xúc tiễn việc làm là một trong những mục tiêu quan trọng trong các hoạt động của mình. ILO đã có nhiều công ước và khuyến nghị quan trọng liên quan đến vấn đề việc làm như: Công ước số 47 (1935) về duy trì tuần làm việc 40 giờ, Tuyên ngôn Philadenphia năm 1944, Công ước số 88 (1948) về tô chức dịch vụ việc làm, Công ước số 122 (1964) về chính sách việc làm, “Chương trình việc làm thế giới” năm 1969, Công ước số 168 (1988) về xúc tiến việc làm và bảo vệ chống lại thất nghiệp,. Tai Hội nghị quốc tế lần thứ 13 của các nhà thống kê lao động ILO đã đưa ra khái niệm người có việc làm và người thất nghiệp. Người có việc làm là những người làm việc gì đó được trả công, lợi nhuận hoặc được thanh toán bằng hiện vật hoặc những người tham gia vào các hoạt động mang tính chất tự tạo việc làm vì lợi ích hay vì thu nhập gia đình không được nhận tiền công hoặc hiện vật.
Còn người thất nghiệp là những người không có việc làm nhưng đang tích cực tìm việc làm hoặc đang chờ được trở lại làm việc. Năm 2005, ILO đã đưa vào Từ điển chuyên ngành khái niệm việc làm: “Employment: work carried out in return for payment. Also refers to the number of people in paid 993 employment and self-employment’” (tạm dịch: Việc làm là công việc được tra ? Bộ Lao động — Thương binh và Xã Hội (1993), Tài liệu pháp luật nước ngoài, Tài liệu nghiên cứu dự thảo Bộ luật lao động. 3 International Labour Organization, Bureau of Library and Ingormation Services, ILO Thesaurus 2005.org/public/libdoc/ILO- Thesaurus/english công.
Việc làm cũng đê cập tới sô lượng người tham gia làm việc đê được trả công và những người tự tạo việc làm). Tại Việt Nam, dưới góc độ ngôn ngữ học, việc làm được hiéu là: “Công việc được giao cho va được trả công”. Dưới góc độ pháp lý, trước năm 1986, trong nén kinh tế kế hoạch hóa tập trung, quan niệm về việc làm rất hep. Chỉ khi người lao động (NLD) được biên chế vào làm việc trong các đơn vị quốc doanh và tập thể thì mới được coi là có việc làm.
Pháp luật không thừa nhận những NLD tự do và cũng không thừa nhận hiện tượng thất nghiệp, thiếu việc làm, dư thừa lao động. Bước sang nền kinh tế thị trường, với sự đa dạng của hình thức sở hữu và thành phân kinh tế, mọi công dân có quyên tự do kinh doanh, tự do thuê mướn lao động. NLD có quyền làm việc cho bất kỳ chủ sử dụng lao động nào. Từ đó, quan niệm về việc làm cũng từng bước thay đôi cơ bản.
Bộ luật lao động (BLLĐ) 1994 đã lần đầu ghi nhận khái niệm việc làm tại Điều 13 như sau: “Moi hoạt động lao động tạo ra nguon thu nhập không bi pháp luật cam đều được thừa nhận là việc làm”. Khái niệm về việc làm này van được giữ nguyên qua các lần sửa đổi, bố sung BLLD các năm 2002, 2006, 2007. Ké thừa tinh than của BLLĐ 1994, Điều 9 BLLĐ 2012 và Khoản 2 Điều 3 Luật việc làm 2013 đã đưa ra khái niệm như sau: “Viéc lam là hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà không bị pháp luật cam’. Như vậy, có thể nhận thay rang, tai Việt Nam, dưới góc độ pháp lý, việc làm được cấu thành bởi ba yêu tố cơ ban: - __ Thứ nhất, việc làm phải là hoạt động lao động của con người.
Đây là hoạt động thê hiện sự tác động của sức lao động con người vào tư liệu sản * Viện ngôn ngữ học (2006), Tir điển Tiếng Việt, Nxb. Từ điển Bách khoa, Hà Nội, tr.1076 xuất dé tạo ra sản phẩm hoặc dịch vụ. Hoạt động lao động có thể là lao động trí óc hoặc lao động chân tay, có trình độ cao hoặc thấp,. Nếu không có hoạt động lao động thì không có việc làm.
Tuy nhiên, hoạt động lao động chỉ là dấu hiệu cơ bản của việc làm chứ không đồng nhất với việc lam. Dé cau thành nên việc làm thì hoạt động lao động cần phải có tính hệ thống, tính thường xuyên và tính nghề nghiệp. - Thu hai, việc làm tạo ra thu nhập. Thu nhập ở đây được hiểu theo nghĩa rộng, không chỉ là khoản thu nhập trực tiếp mà còn bao hàm cả khả năng tạo ra thu nhập.
Điều này thé hiện tính hữu ích của việc làm. NLD đã phải bỏ sức lao động đề thực hiện hoạt động lao động; vậy nên sự tiêu hao sức lao động đó phải được đền bù bang một lượng giá trị xứng đáng dé NLD có thé tái sản xuất sức lao động, tiếp tục tham gia vào quá trình lao động. - _ Thứ ba, việc làm phải hợp pháp, không bị pháp luật cấm. Điều này thé hiện rõ tính pháp lý của việc làm vì không phải mọi hoạt động lao động của con người tạo ra thu nhập thì đều được coi là việc làm.
Và cũng tùy theo từng thời kỳ, từng quốc gia mà có những hoạt động có thể được thừa nhận là hợp pháp hay không. Có thể thấy, khái niệm về việc làm theo quy định tại BLLĐ 2012 và Luật việc làm 2013 là quan niệm mang tính khái quát cao và đã có sự tiếp thu, chọn lọc từ các quan điểm khác trên thế giới. Từ khái niệm này sẽ là cơ sở để ban hành các chính sách đảm bảo việc làm và giải quyết việc làm tại Việt Nam. Khái niệm giải quyết việc làm Trên thế giới, vấn đề GQVL được các quốc gia đặc biệt quan tâm.
Chương trình GQVL cho NLD thậm chí con được đặt ra trong cương lĩnh tranh cử của các đảng phái trong các kỳ bầu cử. Tổ chức lao động quốc tế ILO cũng đã thông qua nhiều công ước và khuyến nghị nhằm GQVL cho 10 NLD như: Công ước 88 và khuyến nghị 83 quy định về những tiêu chuẩn chức năng và tổ chức của các trung tâm dịch vụ quốc gia về việc làm; Công ước 122 về chính sách làm việc; Công ước 149 về việc làm và các điều kiện của việc làm và đời sống của nhân viên y tế; Công ước 163 về xúc tiến việc làm và bảo vệ chống nạn thất nghiỆp;. Ở Việt Nam, cùng với sự thay đổi trong nhận thức về khái niệm việc làm thì van đề GQVL cũng có những thay đổi qua từng thời kỳ của đất nước. Trong thời kỳ tập trung bao cấp, GQVL được coi là nhiệm vụ của Nhà nước được thé hiện qua Điều 59 Hiến pháp 1980: “Công dan có quyên có việc làm, người có sức lao động phải lao động theo quy định của pháp luật, Nhà nước dựa vào kế hoạch phái triển kinh tế và văn hóa mà tạo thêm việc làm, sắp xếp công việc căn cứ vào năng lực, nguyện vọng cá nhân và yêu cẩu xã hội”.
Chính những quy định này đã tạo nên sức ép lớn lên Nhà nước thời bấy giờ. Hơn thế, điều này cũng không có lợi cho nền kinh tế quốc dân vì người dân với tâm thé y lại vào Nhà nước, không có sự hăng say làm việc, tìm tòi, sáng tạo dân đên việc kinh tê gặp rât nhiêu khó khăn. Sau năm 1986, sau khi nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã tạo nên sự thay đổi lớn trong nhận thức về vấn đề GQVL. Hiện nay, chính sách về GQVL đã được thê hiện qua các quy định tại Điều 9 BLLĐ 2012: “Nhà nước, người sử dụng lao động và xã hội có trách nhiệm tham gia giải quyết việc làm, bảo đảm cho mọi người có khả năng lao động déu có cơ hội có việc làm” và Điều 5 Luật việc làm 2013: «Điều 5.
Chính sách của Nhà nước về việc làm 1. Có chính sách phat triển kinh tế - xã hội nhằm tạo việc làm cho người lao động, xác định mục tiêu giải quyết việc lam trong chiến lược, kế hoạch phái triển kinh tế - xã hội; bố trí nguôn lực dé thực hiện chính sách về việc làm. II De Khuyến khích tổ chức, cá nhân tham gia tạo việc làm và tự tạo việc làm có thu nhập từ mức lương toi thiểu trở lên nhằm góp phan phát triển kinh tế - xã hội, phát triển thị trường lao động. Có chính sách hỗ trợ tạo việc làm, phái triển thị trường lao động và bảo hiểm thất nghiệp.