Chương 1 Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về giải quyết việc làm ở nông thôn 1. Một số vấn đề lý luận về giải quyết việc làm ở nông thôn 1. Một số khái niệm cơ bản liên quan trực tiếp đến giải quyết việc làm * Dân số: Dân số là cơ sở để hình thành lực lượng lao động. Dân số biến động có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến quy mô, cơ cấu cũng như sự phân bố theo không gian của dân số trong độ tuổi lao động.
Theo nghĩa rộng: Dân số là tập hợp những người cư trú thường xuyên và sống trên một lãnh thổ nhất định (một quốc gia, một vùng lãnh thổ kinh tế, một đơn vị hành chính). Theo nghĩa hẹp: Dân số là một tập hợp người hạn định trong phạm vi nào đó (về lãnh thổ và xã hội có tính chất gắn liền với sự tái sản xuất liên tục của nó). Nhân khẩu thường trú: Là những người thường xuyên cư trú ở một địa điểm nhất định, nó phản ánh quy mô dân số của địa phương. Nhân khẩu tạm trú: Là những người ở thường xuyên tại một nơi khác nhưng có mặt tại điểm dân cư đăng ký dân số.
Nhân khẩu có mặt: Là người đang ở tại một điểm dân cư không kể là nhân khẩu thường trú hay tạm trú. Nhân khẩu thành thị: Những người cư trú thường xuyên ở các điểm đã quy định là thành thị gọi là nhân khẩu thành thị. Nhân khẩu nông thôn: Những người cư trú thường xuyên ở ngoài các địa điểm được quy định là thành thị. Nhân khẩu nông nghiệp: Là những người làm nghề nông (nông, lâm, ngư, diêm nghiệp) và những nhân khẩu chủ yếu sống nhờ vào thu nhập của những người đó.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 Nhân khẩu phi nông nghiệp: Là những người làm các công việc không thuộc nghề nông và những nhân khẩu chủ yếu sống nhờ vào thu nhập của những người này. Dân số trong độ tuổi lao động: Là những người ở trong độ tuổi lao động theo quy định của pháp luật nước đó. ở nước ta hiện nay, theo Bộ Luật lao động quy định độ tuổi lao động là những người đủ 15 tuổi đến 60 tuổi (đối với nam) và đủ 15 tuổi đến 55 tuổi (đối với nữ). Dân số hoạt động kinh tế: Theo khuyến nghị của APR (tổ chức khu vực Châu á Thái Bình Dương về điều tra dân số và nhà ở) năm 1980, thì dân số hoạt động kinh tế gồm những người có việc làm và những người thất nghiệp.
Giáo trình Khoa Kinh tế lao động Trường Đại học Kinh tế Quốc dân - Hà Nội đưa ra khái niệm về dân số hoạt động kinh tế gồm: “Những người trong tuổi lao động có việc làm và những người chưa có việc làm, đang tìm việc làm”. Dân số không hoạt động kinh tế: Gồm những người trong tuổi lao động đang làm công việc nội trợ trong gia đình mình, đang đi học hoặc mất khả năng lao động, thất nghiệp nhưng không có nhu cầu làm việc, những người nghỉ hưu trước tuổi theo quy định của Bộ Luật lao động. * Lao động: - Lực lượng lao động: Trên thế giới có nhiều quan niệm khác nhau về lực lượng lao động. Từ điển thuật ngữ trong lĩnh vực lao động của Liên Xô (cũ), (Matxcơva 1997, tiếng nga) lực lượng lao động là khái niệm định lượng của lao động.
Từ điển thuật ngữ Pháp (1997-1985) lực lượng lao động là số lượng và chất lượng những người lao động được quy đổi theo các tiêu chuẩn trung bình về khả năng lao động có thể sử dụng. Nhà kinh tế học Da Vid Begg cho rằng: Lực lượng lao động có đăng ký LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 bao gồm số người có công ăn việc làm cộng với số người thất nghiệp có đăng ký. Theo tổ chức lao động của (ILO): Lực lượng lao động là một bộ phận dân số trong độ tuổi quy định, thực tế có tham gia lao động và những người không có việc làm đang tích cực tìm kiếm việc làm.1: Cơ cấu lực lượng lao động Dân số trong tuổi lao động quy định (a) Cú việc làm (b) Khụng cú việc làm Muốn làm việc Khụng muốn làm việc E N - Chủ động tỡm việc Không chủ động - Sẵn sàng làm việc tỡm việc U N Lực lượng lao động Không thuộc lực lượng E: Người có việc làm lao động Ư: Người thất nghiệp N: Người không tham gia hoạt động kinh tế Theo thuật ngữ về lĩnh vực lao động của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội thì lực lượng lao động là những người đủ 15 tuổi trở lên có việc làm và những người thất nghiệp. Lực lượng lao động đồng nghĩa với dân số hoạt động kinh tế; lực lượng lao động là bộ phận hoạt động của nguồn lao động [6, tr.
Từ những quan niệm của các nhà nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam, LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 chúng tôi đưa ra quan niệm về lực lượng lao động như sau: Lực lượng lao động bao gồm toàn bộ những người từ đủ 15 tuổi trở lên đang có việc làm hoặc không có việc làm, nhưng có nhu cầu làm việc và sẵn sàng làm việc. - Lao động: Khái niệm về lao động có nhiều cách tiếp cận khác nhau nhưng suy đến cùng, lao động là hoạt động đặc thù của con người, là ranh giới để phân biệt con người với con vật. Bởi vì, khác với con vật, lao động của con người là hoạt động có mục đích, có ý thức tác động vào thế giới tự nhiên nhằm cải biến những vật thể của tự nhiên thành sản phẩm phục vụ cho nhu cầu đời sống của con người.Mác: “Lao động trước hết là một quá trình diễn ra giữa con người và tự nhiên, một quá trình trong đó bằng hoạt động của chính mình, con người làm trung gian, điều tiết và kiểm tra sự trao đổi chất giữa họ và tự nhiên” [36, tr.Ăng ghen viết: Khẳng định rằng lao động là nguồn gốc của mọi của cải. Lao động đúng là như vậy, khi đi đôi với giới tự nhiên là cung cấp những vật liệu cho lao động đem biến thành của cải.
Nhưng lao động còn là một cái gì vô cùng lớn lao hơn thế nữa, lao động là điều kiện cơ bản đầu tiên của toàn bộ đời sống loài người, và như thế đến một mức mà trên một ý nghĩa nào đó, chúng ta phải nói: Lao động đã sáng tạo ra bản thân loài người [38, tr. Như vậy, có thể nói lao động là hoạt động có mục đích, có ý thức của con người, trong quá trình lao động con người vận dụng sức lực tiềm tàng trong thân thể của mình, sử dụng công cụ lao động để tác động vào đối tượng lao động nhằm biến đổi nó phù hợp với nhu cầu của mình. Nói cách khác, trong bất kỳ nền sản xuất xã hội nào, lao động bao giờ cũng là điều kiện để tồn tại và phát triển của xã hội. - Nguồn lao động và lực lượng lao động: Nguồn lao động và lực lượng lao động là những khái niệm có ý nghĩa LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 13 quan trọng làm cơ sở cho việc tính toán cân đối lao động, việc làm trong xã hội.
Theo giáo trình Kinh tế phát triển của trường Đại học Kinh tế quốc dân (2005) đưa ra khái niệm “Nguồn lao động là bộ phận dân số trong độ tuổi lao động theo quy định của pháp luật có khả năng lao động, có nguyện vọng tham gia lao động và những người ngoài độ tuổi lao động (trên độ tuổi lao động) đang làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân” [5, tr. Việc quy định độ tuổi lao động tuỳ mỗi nước có quy định khác nhau, thậm chí khác nhau ở các giai đoạn của mỗi nước. Điều đó tuỳ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế. ở nước ta, theo quy định của Bộ Luật lao động (2002) độ tuổi lao động đối với nam từ 15-60 tuổi và nữ là từ 15-55 tuổi.
Nguồn lao động luôn được xem xét trên hai mặt, biểu hiện đó là số lượng và chất lượng. Số lượng lao động: Là toàn bộ những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động gồm: Dân số đủ 15 tuổi trở lên có việc làm và dân số trong độ tuổi lao động có khả năng lao động nhưng đang thất nghiệp, đang đi học, đang làm công việc nội trợ trong gia đình, không có nhu cầu việc làm và những người thuộc tình trạng khác (bao gồm cả những người nghỉ hưu trước tuổi quy định). Chất lượng lao động: Cơ bản đánh giá ở trình độ chuyên môn, tay nghề (trí lực) và sức khoẻ (thể lực) của người lao động. Lực lượng lao động: Theo quan niệm của tổ chức lao động Quốc tế (ILO) là bộ phận dân số trong độ tuổi lao động.
Theo thực tế đang có có việc làm và những người thất nghiệp. Theo giáo trình Kinh tế phát triển, Trường Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội (2005), ở nước ta hiện nay thường sử dụng khái niệm sau: "Lực lượng lao động là bộ phận dân số đủ 15 tuổi trở lên có việc làm và những người thất nghiệp” [5, tr. Lực lượng lao động theo quan niệm như trên là đồng nghĩa với dân số hoạt động kinh tế (tích cực) và nó phản ánh khả năng thực tế về cung ứng lao động của xã hội. - Thị trường lao động Nước ta từ khi chuyển sang vận hành theo nền kinh tế thị trường, thì LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 14 thuật ngữ “Thị trường lao động” đã được nhiều nhà nghiên cứu đề cập và đưa ra những khái niệm khác nhau.
Mỗi định nghĩa nhấn mạnh vào một phương diện nào đó của thị trường này. Đề tài cấp nước KX 04-04 cho rằng: Thị trường lao động là toàn bộ các quan hệ lao động được xác lập trong lĩnh vực thuê mướn lao động (bao gồm các mối quan hệ lao động cơ bản như: tiền lương, tiền công, bảo hiểm xã hội, tranh chấp lao động.) ở đó diễn ra sự trao đổi, thoả thuận giữa một bên là người lao động tự do và một bên là người sử dụng lao động. Tổng quan khoa học đề tài cấp bộ (2003-2004), Thị trường lao động Việt Nam thực trạng và giải pháp, của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, đưa ra khái niệm: Thị trường lao động là một bộ phận của hệ thống thị trường, trong đó diễn ra quá trình trao đổi giữa một bên là người lao động tự do và một bên là người có nhu cầu sử dụng lao động. Sự trao đổi này được thoả thuận trên cơ sở các mối quan hệ lao động như tiền công, tiền lương, điều kiện việc làm, bảo hiểm xã hội.