Luận văn: Giải quyết việc làm cho lao động nông thôn ở Quảng Bình

Luận văn thạc sĩ: Giải pháp việc làm cho lao động nông thôn Quảng Bình. Nghiên cứu chuyên sâu về thực trạng và đề xuất chính sách hiệu quả.

Chuyên ngành

Kinh tế chính trị

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2014

126
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Toàn cảnh bài toán giải quyết việc làm nông thôn Quảng Bình

Việc làm là một trong những vấn đề cốt lõi, quyết định sự phát triển kinh tế - xã hội và ổn định của mỗi quốc gia. Đối với tỉnh Quảng Bình, một địa phương có hơn 84% dân số sinh sống tại khu vực nông thôn, vấn đề giải quyết việc làm nông thôn Quảng Bình không chỉ là mục tiêu kinh tế mà còn là nhiệm vụ chính trị quan trọng. Hoạt động này nhằm phát huy tiềm năng lao động dồi dào, góp phần xóa đói giảm nghèo hiệu quả, nâng cao chất lượng cuộc sống người dân và đảm bảo an ninh trật tự. Bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đặt ra nhiều cơ hội nhưng cũng không ít thách thức cho lực lượng lao động nông thôn, vốn có những đặc thù riêng về trình độ và kỹ năng. Do đó, việc xây dựng một chiến lược toàn diện, khoa học để tạo việc làm bền vững cho người lao động tại khu vực này là yêu cầu cấp thiết, định hướng cho sự phát triển lâu dài của tỉnh. Phân tích thực trạng và đề xuất các giải pháp khả thi là bước đi cần thiết để biến tiềm năng thành động lực tăng trưởng.

1.1. Tầm quan trọng đối với an sinh xã hội và phát triển bền vững

Giải quyết việc làm hiệu quả là nền tảng vững chắc cho an sinh xã hội. Khi người lao động có việc làm và thu nhập ổn định, đời sống vật chất và tinh thần được cải thiện, góp phần trực tiếp vào mục tiêu giảm nghèo bền vững. Theo Luận văn Thạc sĩ của Phan Văn Cầu (2014), tạo việc làm không chỉ phát huy nguồn lực con người cho phát triển kinh tế mà còn là "hướng cơ bản để xóa đói, giảm nghèo có hiệu quả, là cơ sở để cải thiện và nâng cao đời sống của nhân dân". Một xã hội ổn định, nơi mọi người dân đều có cơ hội lao động và cống hiến, sẽ tạo ra động lực mạnh mẽ cho sự nghiệp đổi mới, giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội. Do đó, các chính sách việc làm cần được xem là trọng tâm trong chiến lược phát triển tổng thể của tỉnh.

1.2. Đặc điểm chính của lực lượng lao động nông thôn tại Quảng Bình

Lực lượng lao động nông thôn tại Quảng Bình chiếm tỷ trọng lớn, lên đến hơn 85% tổng lực lượng lao động toàn tỉnh. Tuy nhiên, chất lượng nguồn lao động này còn nhiều hạn chế. Đa số lao động làm việc trong lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp với phương thức sản xuất còn mang tính truyền thống, phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên. Trình độ học vấn và chuyên môn kỹ thuật thấp là một rào cản lớn. Dữ liệu từ nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ lao động qua đào tạo rất thấp, không đáp ứng được yêu cầu của thị trường lao động Quảng Bình trong bối cảnh mới. Việc làm mang tính thời vụ cao, dẫn đến tình trạng thiếu việc làm vào thời gian nông nhàn, ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập và cuộc sống của người dân. Đây là những đặc điểm cơ bản cần được xem xét kỹ lưỡng khi xây dựng các giải pháp tạo việc làm.

II. Thách thức lớn trong giải quyết việc làm nông thôn Quảng Bình

Quá trình giải quyết việc làm nông thôn Quảng Bình phải đối mặt với nhiều thách thức đan xen. Vấn đề lớn nhất xuất phát từ chất lượng nguồn nhân lực. Trình độ chuyên môn kỹ thuật của lao động còn thấp, chưa qua đào tạo bài bản, dẫn đến việc khó tiếp cận các cơ hội việc làm trong lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ đòi hỏi kỹ năng cao. Bên cạnh đó, quá trình đô thị hóa và chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp tuy cần thiết cho phát triển nhưng lại khiến một bộ phận nông dân mất đi tư liệu sản xuất chính. Họ gặp khó khăn trong việc tìm kiếm việc làm mới phù hợp. Tỷ lệ thiếu việc làm và thất nghiệp ở khu vực nông thôn vẫn còn ở mức đáng lo ngại, tạo ra sức ép lớn lên hệ thống an sinh xã hội. Những thách thức này đòi hỏi phải có những giải pháp đồng bộ và quyết liệt, không chỉ từ phía chính quyền mà còn cần sự nỗ lực từ chính người lao động.

2.1. Hạn chế về trình độ học vấn và kỹ năng chuyên môn kỹ thuật

Hạn chế lớn nhất của lao động nông thôn Quảng Bình là chất lượng chưa đáp ứng yêu cầu. Theo Luận văn của Phan Văn Cầu, phần lớn lao động chỉ có kinh nghiệm sản xuất nông nghiệp truyền thống, thiếu kỹ năng và kiến thức để làm việc trong các ngành công nghiệp, dịch vụ hiện đại. Tỷ lệ lao động có bằng cấp, chứng chỉ chuyên môn kỹ thuật rất thấp. Bảng 3.4 trong nghiên cứu chỉ ra sự chênh lệch lớn về trình độ chuyên môn so với yêu cầu thực tế. Điều này khiến họ yếu thế trong cạnh tranh trên thị trường lao động Quảng Bình và khó tiếp cận những công việc có thu nhập cao, ổn định tại các khu công nghiệp hay các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Đây là nút thắt cần được tháo gỡ thông qua các chương trình đào tạo nghề nông thôn hiệu quả.

2.2. Tác động từ quá trình chuyển đổi cơ cấu lao động và đô thị hóa

Quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa đang diễn ra mạnh mẽ, dẫn đến việc thu hẹp diện tích đất nông nghiệp. Hệ quả là một bộ phận lớn nông dân mất đất sản xuất, buộc phải chuyển đổi cơ cấu lao động. Tuy nhiên, quá trình chuyển đổi này không phải lúc nào cũng suôn sẻ. Người lao động mất đất nhưng không có kỹ năng nghề nghiệp phù hợp sẽ rơi vào tình trạng thất nghiệp hoặc phải làm các công việc phi chính thức, bấp bênh với thu nhập thấp. Sự chuyển dịch từ nông nghiệp sang phi nông nghiệp là tất yếu, nhưng nếu không có sự chuẩn bị và hỗ trợ kịp thời, nó sẽ tạo ra những bất ổn xã hội và gia tăng áp lực giải quyết việc làm cho chính quyền địa phương.

2.3. Áp lực từ tỷ lệ thiếu việc làm và thất nghiệp còn cao

Số liệu thực tế cho thấy bức tranh không mấy sáng sủa về tình trạng việc làm ở nông thôn Quảng Bình. Luận văn trích dẫn số liệu năm 2013: "tỷ lệ thời gian lao động ở nông thôn mới đạt gần 80%, tỷ lệ người thất nghiệp trong độ tuổi ở nông thôn là 1,66%, tỷ lệ người thiếu việc làm trong độ tuổi ở nông thôn là 2,82%". Con số này cho thấy tình trạng lãng phí nguồn lực lao động và tiềm ẩn nhiều vấn đề xã hội. Tình trạng thiếu việc làm, đặc biệt vào lúc nông nhàn, là phổ biến, khiến thu nhập của người dân không ổn định. Sức ép này đòi hỏi các chương trình, chính sách việc làm Quảng Bình phải đi vào thực chất, tạo ra những công việc bền vững thay vì chỉ mang tính thời vụ, tạm thời.

III. Phương pháp hiệu quả tạo việc làm tại chỗ cho lao động nông thôn

Để giải quyết căn cơ bài toán việc làm, việc tạo ra việc làm tại chỗ được xem là hướng đi bền vững và chiến lược. Thay vì khuyến khích người dân di cư đến các thành phố lớn, tỉnh Quảng Bình cần tập trung phát triển kinh tế ngay tại khu vực nông thôn. Hướng đi này không chỉ giúp người lao động "ly nông bất ly hương" mà còn góp phần xây dựng nông thôn mới, giảm áp lực cho các đô thị. Các giải pháp trọng tâm bao gồm đa dạng hóa các mô hình kinh tế nông thôn, khôi phục và phát triển các làng nghề truyền thống, đồng thời tạo môi trường thuận lợi cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa đầu tư sản xuất, kinh doanh. Bên cạnh đó, việc thúc đẩy tinh thần khởi nghiệp nông thôn thông qua các chính sách hỗ trợ về vốn và kỹ thuật sẽ giải phóng tiềm năng sáng tạo, giúp người dân tự chủ tạo ra việc làm cho bản thân và cộng đồng.

3.1. Phát triển đa dạng các mô hình kinh tế nông thôn và làng nghề

Phát triển ngành nghề nông thôn là động lực trực tiếp để giải quyết việc làm. Cần khuyến khích các mô hình kinh tế nông thôn mới như kinh tế trang trại, gia trại, nông nghiệp công nghệ cao, và các mô hình liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị. Song song đó, việc khôi phục và phát triển các làng nghề truyền thống (mây tre đan, đồ gỗ, chế biến nông sản) không chỉ bảo tồn văn hóa mà còn thu hút một lượng lớn lao động, đặc biệt là việc làm cho phụ nữ nông thôn và người lớn tuổi. Nhà nước cần có chính sách hỗ trợ về công nghệ, tìm kiếm thị trường tiêu thụ sản phẩm để các làng nghề phát triển bền vững, tạo ra những sản phẩm có giá trị gia tăng cao.

3.2. Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa trong phát triển kinh tế

Doanh nghiệp vừa và nhỏ (SMEs) được coi là xương sống của nền kinh tế và là động lực quan trọng trong việc tạo việc làm tại chỗ. Cần có cơ chế, chính sách thông thoáng để thu hút các doanh nghiệp đầu tư vào khu vực nông thôn, đặc biệt trong các lĩnh vực chế biến nông lâm thủy sản, sản xuất hàng tiêu dùng, và dịch vụ. Việc hình thành các cụm công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp tại các địa phương sẽ tạo ra một hệ sinh thái sản xuất, thu hút lao động và thúc đẩy phát triển kinh tế nông thôn Quảng Bình. Chính quyền cần hỗ trợ doanh nghiệp về mặt bằng, thủ tục hành chính và kết nối với nguồn lao động đã qua đào tạo.

3.3. Khuyến khích khởi nghiệp nông thôn và chính sách tự tạo việc làm

Chủ trương khuyến khích người lao động tự tạo việc làm là một giải pháp quan trọng được đề cập trong luận văn của Phan Văn Cầu. Để thúc đẩy tinh thần khởi nghiệp nông thôn, cần triển khai hiệu quả các chính sách hỗ trợ vốn vay ưu đãi từ Quỹ Quốc gia về việc làm và các tổ chức tín dụng. Ngoài vốn, cần tổ chức các lớp tập huấn về quản trị kinh doanh, kỹ năng bán hàng và marketing cho thanh niên, nông dân. Việc hỗ trợ việc làm cho thanh niên thông qua các mô hình khởi nghiệp sáng tạo sẽ tạo ra một thế hệ doanh nhân nông thôn mới, góp phần làm thay đổi diện mạo kinh tế địa phương và tạo ra nhiều việc làm cho cộng đồng.

IV. Hướng đi mới Xuất khẩu lao động và đào tạo nghề chuyên sâu

Bên cạnh các giải pháp tại chỗ, việc mở ra các hướng đi mới như đẩy mạnh xuất khẩu lao động và đầu tư vào đào tạo nghề chuyên sâu là cần thiết để giải quyết việc làm nông thôn Quảng Bình một cách toàn diện. Xuất khẩu lao động Quảng Bình không chỉ giúp giảm áp lực việc làm trong tỉnh mà còn mang lại nguồn ngoại tệ lớn, góp phần cải thiện kinh tế hộ gia đình. Tuy nhiên, để hướng đi này bền vững, chất lượng lao động phải được nâng cao. Điều này đòi hỏi một cuộc cách mạng trong công tác đào tạo nghề nông thôn. Các chương trình đào tạo cần được thiết kế lại, bám sát nhu cầu thực tế của thị trường lao động trong và ngoài nước. Vai trò của các Trung tâm dịch vụ việc làm Quảng Bình cũng cần được phát huy mạnh mẽ hơn trong việc kết nối, tư vấn và định hướng nghề nghiệp cho người lao động.

4.1. Đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu lao động Quảng Bình có định hướng

Xuất khẩu lao động (XKLĐ) là một kênh giải quyết việc làm nhanh và hiệu quả. Tuy nhiên, cần thực hiện một cách có định hướng và chiến lược. Thay vì xuất khẩu lao động giản đơn, cần tập trung vào các thị trường có thu nhập cao, điều kiện làm việc tốt và yêu cầu kỹ năng. Chính quyền cần tăng cường quản lý, minh bạch thông tin về các đơn vị XKLĐ uy tín, đồng thời có chính sách hỗ trợ người lao động về chi phí học ngoại ngữ, đào tạo kỹ năng và vay vốn. Việc này không chỉ giúp người lao động có thu nhập cao mà khi trở về, họ còn mang theo kỹ năng, kinh nghiệm và vốn để khởi nghiệp, tiếp tục đóng góp cho sự phát triển của quê hương.

4.2. Nâng cao chất lượng đào tạo nghề nông thôn theo nhu cầu xã hội

Đào tạo nghề nông thôn là chìa khóa để nâng cao năng lực cạnh tranh của người lao động. Tuy nhiên, luận văn chỉ ra rằng công tác này còn nhiều bất cập, "chưa phù hợp với nhu cầu của người học và người sử dụng lao động". Do đó, cần đổi mới mạnh mẽ nội dung và phương pháp đào tạo. Chương trình phải được xây dựng dựa trên khảo sát nhu cầu của doanh nghiệp và thị trường. Cần tăng cường liên kết giữa cơ sở dạy nghề và doanh nghiệp, đưa học viên đến thực tập tại nhà máy, xí nghiệp. Các ngành nghề đào tạo cần đa dạng, không chỉ tập trung vào nông nghiệp mà còn mở rộng sang các lĩnh vực phi nông nghiệp như cơ khí, điện, du lịch, dịch vụ.

4.3. Tối ưu vai trò cầu nối của Trung tâm dịch vụ việc làm Quảng Bình

Trung tâm dịch vụ việc làm Quảng Bình đóng vai trò là cầu nối quan trọng giữa cung và cầu lao động. Để hoạt động hiệu quả, trung tâm cần đẩy mạnh các hoạt động tư vấn, hướng nghiệp, giới thiệu việc làm. Việc tổ chức thường xuyên các sàn giao dịch việc làm, ngày hội tuyển dụng sẽ tạo cơ hội cho người lao động và doanh nghiệp trực tiếp gặp gỡ. Bên cạnh đó, trung tâm cần xây dựng cơ sở dữ liệu về thị trường lao động Quảng Bình, phân tích và dự báo nhu cầu nhân lực để cung cấp thông tin chính xác cho các cơ sở đào tạo và người lao động, giúp họ có những lựa chọn nghề nghiệp phù hợp với xu hướng phát triển.

V. Kết quả thực tiễn từ chính sách việc làm Quảng Bình 2008 2013

Giai đoạn 2008-2013 ghi nhận những nỗ lực đáng kể của tỉnh trong công tác giải quyết việc làm nông thôn Quảng Bình. Thông qua việc lồng ghép các chương trình phát triển kinh tế-xã hội, nhiều việc làm mới đã được tạo ra, góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động và cải thiện đời sống người dân. Các chính sách việc làm Quảng Bình đã tập trung vào nhiều kênh khác nhau, từ hỗ trợ vốn vay sản xuất, phát triển doanh nghiệp, đến đẩy mạnh xuất khẩu lao động. Tuy đã đạt được những thành tựu ban đầu, quá trình triển khai vẫn còn bộc lộ một số hạn chế. Việc đánh giá khách quan những kết quả đạt được và nhận diện rõ các yếu điểm là cơ sở quan trọng để điều chỉnh chính sách, nâng cao hiệu quả công tác giải quyết việc làm trong giai đoạn tiếp theo.

5.1. Phân tích số liệu giải quyết việc làm giai đoạn 2008 2013

Theo Bảng 3.8 trong Luận văn của Phan Văn Cầu, giai đoạn 2008-2013, tỉnh Quảng Bình đã giải quyết việc làm cho hàng chục nghìn lao động nông thôn mỗi năm. Các chương trình phát triển kinh tế - xã hội là kênh tạo việc làm chủ đạo, tiếp theo là chương trình cho vay vốn từ Quỹ quốc gia hỗ trợ việc làm và hoạt động xuất khẩu lao động. Các con số cho thấy sự nỗ lực của chính quyền trong việc đa dạng hóa các nguồn tạo việc làm. Số lượng việc làm được tạo mới có xu hướng tăng qua các năm, thể hiện tính hiệu quả bước đầu của các chính sách đã triển khai. Tuy nhiên, cần phân tích sâu hơn về chất lượng của những việc làm này, liệu chúng có thực sự bền vững và mang lại thu nhập ổn định hay không.

5.2. Thành tựu trong hỗ trợ việc làm cho thanh niên và phụ nữ nông thôn

Các chương trình mục tiêu đã đặc biệt chú trọng đến các nhóm đối tượng yếu thế như thanh niên và phụ nữ. Nhiều dự án hỗ trợ việc làm cho thanh niên đã được triển khai, tập trung vào đào tạo nghề và hỗ trợ khởi nghiệp. Các mô hình kinh tế do thanh niên làm chủ đã bắt đầu xuất hiện và phát huy hiệu quả. Đối với lao động nữ, việc phát triển các ngành nghề thủ công, chế biến nông sản tại địa phương đã tạo ra cơ hội việc làm cho phụ nữ nông thôn, giúp họ tăng thêm thu nhập và khẳng định vai trò trong gia đình và xã hội. Đây là những điểm sáng, cho thấy chính sách đã đi đúng hướng trong việc đảm bảo công bằng xã hội trong tiếp cận cơ hội việc làm.

5.3. Hạn chế và nguyên nhân cốt lõi cần được khắc phục

Bên cạnh thành tựu, công tác giải quyết việc làm vẫn còn nhiều hạn chế. Chất lượng việc làm chưa cao, nhiều công việc còn mang tính thời vụ, thu nhập bấp bênh. Tỷ lệ lao động tái mất việc làm còn tồn tại. Nguyên nhân chính được chỉ ra là do công tác đào tạo nghề chưa gắn liền với nhu cầu thị trường; sự phối hợp giữa các ban ngành, địa phương chưa đồng bộ; nguồn vốn hỗ trợ còn hạn hẹp. Một số chính sách còn mang tính hình thức, chưa thực sự đi vào cuộc sống. Việc nhận thức của một bộ phận lao động nông thôn còn hạn chế, mang tâm lý ỷ lại, chưa chủ động tìm kiếm cơ hội cũng là một rào cản cần được tháo gỡ thông qua công tác tuyên truyền, vận động.

VI. Định hướng chiến lược giải quyết việc làm nông thôn đến 2020

Để nâng cao hiệu quả giải quyết việc làm nông thôn Quảng Bình trong tương lai, cần một tầm nhìn chiến lược và các giải pháp đồng bộ, quyết liệt. Định hướng chung là gắn kết chặt chẽ chính sách việc làm với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội tổng thể của tỉnh. Mục tiêu không chỉ là số lượng việc làm được tạo ra mà còn là chất lượng và tính bền vững của việc làm đó. Cần hoàn thiện hệ thống chính sách việc làm Quảng Bình theo hướng khuyến khích đầu tư, phát triển sản xuất và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Việc tạo việc làm phải được xem là con đường cốt lõi để thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững và đảm bảo an sinh xã hội, hướng tới xây dựng một thị trường lao động Quảng Bình năng động, linh hoạt và hội nhập.

6.1. Hoàn thiện chính sách việc làm Quảng Bình một cách đồng bộ

Luận văn đề xuất giải pháp hàng đầu là "Hoàn thiện chính sách đi đôi với đổi mới quản lý nhà nước về lĩnh vực giải quyết việc làm". Điều này đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa các sở, ban, ngành. Các quy hoạch phát triển kinh tế, công nghiệp, nông nghiệp cần phải tính toán đến yếu tố lao động và việc làm. Chính sách hỗ trợ cần được thiết kế lại theo hướng đơn giản, dễ tiếp cận và tập trung vào hiệu quả thực chất. Cần tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc thực thi chính sách để đảm bảo nguồn lực của nhà nước được sử dụng đúng mục đích và mang lại lợi ích cao nhất cho người lao động.

6.2. Gắn kết tạo việc làm với giảm nghèo bền vững và an sinh xã hội

Giải quyết việc làm không thể tách rời mục tiêu giảm nghèo bền vững và củng cố hệ thống an sinh xã hội. Thay vì các biện pháp trợ cấp mang tính ngắn hạn, việc tạo ra cơ hội việc làm ổn định với thu nhập tốt chính là giải pháp bền vững nhất để người dân thoát nghèo. Các chương trình việc làm cần ưu tiên các hộ nghèo, cận nghèo, các đối tượng yếu thế. Đồng thời, cần phát triển các hình thức bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp linh hoạt, phù hợp với lao động khu vực phi chính thức ở nông thôn, tạo ra một mạng lưới an toàn cho người lao động.

6.3. Tầm nhìn phát triển thị trường lao động Quảng Bình hội nhập

Tầm nhìn dài hạn là xây dựng một thị trường lao động Quảng Bình hiện đại, minh bạch và có khả năng thích ứng cao với quá trình hội nhập. Điều này đòi hỏi phải đầu tư mạnh mẽ vào giáo dục và đào tạo để tạo ra một lực lượng lao động có kỹ năng, kỷ luật và tác phong công nghiệp. Hệ thống thông tin thị trường lao động cần được hiện đại hóa để cung cấp dự báo chính xác về cung - cầu. Quảng Bình cần chủ động nắm bắt các cơ hội từ các hiệp định thương mại tự do để thúc đẩy xuất khẩu và thu hút đầu tư, từ đó tạo ra nhiều việc làm chất lượng cao cho lao động nông thôn, góp phần vào sự phát triển chung của tỉnh.

26/09/2025
Luận văn thạc sĩ giải quyết việc làm cho người lao động nông thôn ở tỉnh quảng bình

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm có 4 chƣơng, 11 tiết: Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận, thực tiễn về việc làm, giải quyết việc làm cho lao động ở nông thôn. Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu. Chƣơng 3: Thực trạng giải quyết việc làm cho lao động nông thôn ở tỉnh Quảng Bình. Chƣơng 4: Quan điểm và giải pháp giải quyết việc làm cho lao động nông thôn ở tỉnh Quảng Bình đến năm 2020.

4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN VỀ VIỆC LÀM, GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG Ở NÔNG THÔN 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 1. Những công trình đã công bố liên quan đến nội dung luận văn Trong những năm qua, đã có nhiều công trình, bài viết về việc làm và giải quyết việc làm cho ngƣời lao động nói chung và cho lao động nông thôn nói riêng ở các góc độ, khía cạnh khác nhau. Trong đó, các công trình tiêu biểu liên quan trực tiếp đến nội dung luận văn có thể chia thành 3 nhóm: Nhóm 1, gồm những bài nghiên cứu các vấn đề chung về giải quyết việc làm cho ngƣời lao động; nhóm 2, gồm những bài nghiên cứu về giải quyết việc làm cho lao động nông thôn tại các địa phƣơng; nhóm 3, gồm những bài nghiên cứu về lao động và việc làm tại tỉnh Quảng Bình.

Các công trình nghiên cứu thuộc nhóm 1 có thể kể đến là: Nguyễn Hữu Dũng và Trần Hữu Trung, 1997. “Chính sách giải quyết việc làm ở Việt Nam”. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội. Các tác giả đã phân tích vị trí, vai trò của chính sách việc làm trong hệ thống chính sách xã hội ở Việt Nam, đồng thời đƣa ra các khái niệm về lao động, thị trƣờng lao động, việc làm, thực trạng vấn đề việc làm ở Việt Nam và phƣơng hƣớng giải quyết, khuyến nghị, định hƣớng một số chính sách cụ thể về việc làm và mô hình tổng quát về chƣơng trình quốc gia xúc tiến việc làm.

“Dạy nghề cho nông dân là giải pháp quan trọng phát triển tam nông bền vững”. Tạp chí Lao động và Xã hội, số 9. Trên cơ sở số liệu thực tế đạt đƣợc tại các vùng nông thôn, bài viết đánh giá những thành tựu căn bản đạt đƣợc ở các khu vực nông nghiệp nông thôn trong quá trình CNH, 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com HĐH, trong đó, phân tích sâu phƣơng diện chất lƣợng nguồn nhân lực và chất lƣợng đời sống nông dân. Bài viết cho rằng để làm tăng thêm hiệu quả của những chủ trƣơng, chính sách, đề án của Đảng và Nhà nƣớc về nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực và chất lƣợng cuộc sống thì dạy nghề cho nông dân là một giải pháp cần phải đặc biệt quan tâm.

Đồng thời tác giả cũng đã đƣa ra một số những khó khăn, thách thức gặp phải khi thực hiện chủ trƣơng này. “Giải quyết việc làm ở nông thôn và những vấn đề đặt ra”. Tạp chí Con số và sự kiện, số 8. Bài viết chủ yếu nêu lên thực trạng của vấn đề giải quyết việc làm ở nông thôn, những biện pháp và kết quả cơ bản trong việc giải quyết việc làm cho ngƣời lao động thời gian qua, trong đó, tác giả đã đi sâu vào phân tích các hạn chế, khó khăn, nguyên nhân của những hạn chế, từ đó đặt ra một số nhiệm vụ trọng tâm cần thực hiện để nâng cao hiệu quả công tác giải quyết việc làm.

Phạm Đức Thành và các cộng sự, 2004. “Lao động và việc làm từ đổi mới đến nay”. Trong cuốn sách Một số vấn đề kinh tế - xã hội Việt Nam thời kỳ đổi mới do GS.TS Nguyễn Văn Thƣờng (Chủ biên), Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội. Các tác giả đã đánh giá hiện trạng lao động và việc làm của Việt Nam trong gần 20 năm và khẳng định, trong những năm qua, tốc độ tăng nguồn lao động đƣợc hạn chế, cơ cấu nguồn lao động đang có xu hƣớng thay đổi tích cực, số lao động có việc làm tăng lên, hàng năm tạo thêm nhiều việc làm mới, cơ cấu lao động làm việc theo nhóm ngành đã có chuyển biến tích cực; tuy nhiên, nguồn lao động ở nƣớc ta vẫn phân bố không đều theo lãnh thổ, chất lƣợng lao động chƣa cao, tỷ lệ sử dụng thời gian lao động ở nông thôn tăng chậm.

Việc tăng tỷ lệ thời gian lao động ở nông thôn luôn đƣợc coi là nhiệm vụ quan trọng trong chính sách phát triển kinh tế xã hội của Đảng và Nhà nƣớc ta. Trên cơ sở phân tích, các tác giả đƣa ra các giải pháp để phát triển việc làm và nguồn lao động trong thời gian tới. 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Một số công trình thuộc nhóm 2 gồm có: Phạm Mạnh Hà, 2012.“Giải quyết việc làm cho lao động nông thôn tỉnh Ninh Bình trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá”. Luận án tiến sỹ kinh tế chính trị.

Học viện Chính trị Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh. Luận án đã đƣa ra cơ sở lý luận và thực tiễn về giải quyết việc làm cho lao động nông thôn trong quá trình CNH, HĐH; đánh giá thực trạng giải quyết việc làm cho lao động nông thôn tỉnh Ninh Bình trong quá trình CNH, HĐH thời gian qua đồng thời đƣa ra những phƣơng hƣớng chủ yếu và giải pháp cơ bản giải quyết việc làm cho lao động nông thôn tỉnh Ninh Bình trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đến năm 2020. Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh, Đại học Thái Nguyên, 2011. “Giải pháp giải quyết việc làm và tăng thu nhập cho người lao động ở khu vực nông thôn tỉnh Thái Nguyên”.

Đề tài cấp Bộ lĩnh vực Kinh tế học. Đề tài đã đƣa ra các cơ sở lý luận cơ bản về việc làm, giải quyết việc làm, đặc diểm cơ bản của lao động nông thôn. Đặc biệt, các tác giả cho rằng, một khó khăn trong giải quyết việc làm cho lao động nông thôn là do ngƣời nông dân chỉ quen làm nông nghiệp. Đó là nghề nghiệp lâu đời của họ.

Muốn phát triển tiểu thủ công nghiệp thì cần có vốn và tay nghề kỹ thuật. Đối với những ngành nhƣ sửa chữa cơ khí, sửa chữa đồ điện và các đồ gia dụng khác, may mặc, dệt thảm…ngƣời lao động cần phải qua đào tạo. Tuy nhiên ở nông thôn không có trƣờng lớp, đến các trung tâm dạy nghề ở các thành phố thì với thu nhập của nông dân điều đó trở thành hết sức khó khăn. Vì vậy, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn và đặc biệt là nông thôn miền núi phát triển rất yếu, quy mô nhỏ và hiệu quả thấp hơn rất nhiều so với tiềm năng có thể khai thác.

Thiếu việc làm ở nông thôn còn do lao động tăng nhanh, diện tích ruộng đất trên một lao động ngày càng giảm, cơ cấu kinh tế lạc hậu. Vì vậy, hiệu quả 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com lao động cũng thấp. Điều đó ảnh hƣởng đến thu nhập và mức sống của cƣ dân nông thôn. Một số công trình, bài viết tiêu biểu ở nhóm 3 gồm có: UBND tỉnh Quảng Bình và Hội Khoa học lịch sử Việt Nam, 2014.

“Báo cáo khoa học Hội thảo Quốc gia về Quảng Bình 410 năm hình thành và phát triển”. Nhà xuất bản Chính trị - Hành chính. Cuốn sách là tuyển tập các bài viết của các GS, Phó GS, tiến sỹ, các nhà nghiên cứu trên mọi miền Tổ quốc và ở Quảng Bình viết về quá trình hình thành và phát triển vùng đất và tỉnh Quảng Bình, những chuyển biến cơ bản về kinh tế- xã hội Quảng Bình trong thực hiện đƣờng lối đổi mới đến nay. Đặc biệt, Sở Kế hoạch và Đầu tƣ tỉnh Quảng Bình với bài “ Những thành tựu kinh tế- xã hội nổi bật sau 25 năm tái lập tỉnh và định hướng phát triển trong thời gian tới”; Thạc sĩ Cái Thị Thuỳ Giang với bài “Những chuyển biến cơ bản về kinh tế- xã hội trong thời kỳ thực hiện đường lối đổi mới từ năm 1986 đến nay”, các bài viết đã khái quát tình hình kinh tế- xã hội của tỉnh và vấn đề giải quyết việc làm của tỉnh trong thời gian qua đã có nhiều chuyển biến.

Cùng với việc mở mang phát triển các chƣơng trình phát triển kinh tế trọng điểm, đa dạng hoá ngành nghề, loại hình kinh tế, tỉnh đã ban hành chính sách tạo môi trƣờng để ngƣời lao động tự tạo việc làm. Tuy nhiên, vấn đề giải quyết việc làm cho lao động vẫn còn nhiều khó khăn, cần phải tiếp tục tăng cƣờng. Trên cơ sở đó, các tác giả đã đề xuất các giải pháp đƣa Quảng Bình phát triển nhanh và bền vững. “Đánh giá công tác đào tạo nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn theo chương trình mục tiêu quốc gia về dạy nghề trên địa bàn tỉnh Quảng Bình”.

Luận văn thạc sỹ kinh tế, Đại học Kinh tế Huế. Luận văn nêu rõ, đào tạo nghề cho lao động nông thôn vẫn luôn là một trong những chính sách xã hội lớn và là nhiệm vụ quan trọng. Chính vì vậy, đào tạo nghề cho lao động nông thôn luôn đƣợc các cấp, các ngành quan tâm và xác định rõ nhiệm vụ. Mặt 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com khác, nó là một trong những nội dung chủ yếu để tạo ra nguồn nhân lực, kỹ thuật thúc đẩy nền kinh tế - xã hội phát triển.

Tuy nhiên, công tác dạy nghề nói chung và dạy nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn nói riêng của tỉnh Quảng Bình vẫn chƣa đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa - hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn trong điều kiện kinh tế thị trƣờng định hƣớng XHCN và hội nhập quốc tế. Việc triển khai công tác này còn chậm, thiếu đồng bộ, chƣa phù hợp với đặc điểm của từng địa phƣơng, ngành kinh tế; thiếu định hƣớng dài hạn, chƣa gắn với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch nông thôn mới, nhất là quy hoạch sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ và thị trƣờng. Một số nơi, dạy nghề còn chạy theo số lƣợng; chất lƣợng thấp, chƣa phù hợp với nhu cầu của ngƣời học và ngƣời sử dụng lao động. Tƣ vấn, hƣớng nghiệp học nghề chƣa phù hợp với điều kiện, khả năng của mình và nhu cầu của xã hội.

Mạng lƣới cơ sở dạy nghề còn nhiều bất cập, cơ sở vật chất, thiết bị chƣa đáp ứng yêu cầu; đội ngũ cán bộ quản lý nhà nƣớc về dạy nghề thiếu về số lƣợng và yếu về nghiệp vụ. Công tác kiểm tra, giám sát còn hạn chế.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ