Chương 1 CHỦ TRƢƠNG CỦA ĐẢNG GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ NÔNG DÂN Ở TỈNH NGHỆ AN NĂM 1930 1. Nông dân Nghệ An dƣới ách thống trị của thực dân Pháp 1. Chính sách thống trị và bóc lột của thực dân Pháp và yêu cầu bức thiết của nông dân Nghệ An Nghệ An là một tỉnh thuộc Trung kỳ thời Pháp thuộc, có vị trí địa lý chiến lƣợc hết sức quan trọng. Phía Bắc giáp tỉnh Thanh Hoá, phía Nam giáp tỉnh Hà Tĩnh, phía Tây giáp nƣớc Lào, phía Đông giáp Biển Đông.
“Nghệ An núi cao, sông sâu, phong tục trọng hậu, cảnh tƣợng tƣơi sáng, gọi là đất có danh tiếng hơn cả ở Nam Châu. Ngƣời thì thuần hóa mà chăm học, sản vật thì nhiều thức quý của lạ. thực là nơi hiểm yếu nhƣ thành đồng, ao nóng của nƣớc và là then khóa của các triều đại” [29, tr. Cố Tổng bí thƣ Lê Duẩn nhận xét: “Trong nƣớc ta hàng ngàn năm nay, Nghệ An là nơi xây dựng cơ sở để chống ngoại xâm, giữ vững nƣớc nhà.
Khi nào phía Bắc mất, ngƣời ta lại vào đây để xây dựng lực lƣợng, gây dựng sức mạnh, giải phóng cả nƣớc. Do cái cơ sở vị trí truyền thống đó mà chúng ta không lấy làm ngạc nhiên ở Nghệ An đã sinh trƣởng những vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc” [8, tr. Ở Nghệ An, đồi núi chiếm 83% diện tích đất tự nhiên của toàn tỉnh. Đồng bằng nhỏ, hẹp, chủ yếu nằm dọc theo lƣu vực các con sông.
Về dân số, theo niên giám thống kê Đông Dƣơng của thực dân Pháp, năm 1931 có khoảng 656.000 ngƣời, trong đó nông dân chiếm trên 95% [92, 156]. Khí hậu rất khắc nghiệt, không thuận lợi, vì vậy ngƣời dân xứ Nghệ có tinh thần lao động cần cù, chịu khó, nhẫn nại trong sản xuất và trong cuộc sống. Đánh giá về Nghệ Tĩnh nói chung và Nghệ An nói riêng, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc viết: “Địa thế hai tỉnh nhiều rừng núi, đất đai cằn cỗi, nông giang chẳng có, ở đây - 14 - TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thƣờng xảy ra lụt, bão, do đó nhân dân đòi khát và nơi ăn chốn ở rất khổ sở, Sƣu thuế nặng nề và nạn áp bức xã hội và chính trị làm cho cảnh ngộ của họ càng cùng cực hơn” [74, tr. Sau khi ký với triều đình nhà Nguyễn điều ƣớc Patơnốt (1884), ngày 20-7-1885, tƣớng Pháp Sơ Mông đem hai đại đội lính pháp đổ bộ lên cửa Hội, đánh chiếm thành Nghệ An.
Ở Trung kỳ, mặc dù bộ máy chính quyền phong kiến nhà Nguyễn với những thể chế, luật pháp khắt khe nhƣng về thực chất bị thực dân Pháp thao túng, “bảo hộ” cho nó hoạt động, nhằm tận dụng tối đa bộ máy chính quyền tay sai phục vụ cho công cuộc khai thác, bóc lột với tốc độ nhanh, đem lại lợi nhuận cao nhất. Cả hai bộ máy cai trị đó cấu kết với nhau, bóc lột nông dân đến tận xƣơng, tận tủy. Áp bức dân tộc và áp bức giai cấp ngày càng nặng nề. Năm 1917, một nhà tƣ bản Pháp đã nhận định: “Bến Thủy có đầy đủ đƣờng giao thông các mặt và tất cả đều nhóm về cảng.
Hai tỉnh quan trọng này có trên 1 triệu rƣỡi dân cũng tập trung xung quanh đây. Ngoài ra, hai tỉnh của xứ Lào là Khăm Muộn và Trấn Ninh cũng dùng cảng Bến Thủy làm nơi giao xuất hàng hóa cuối cùng. Trƣớc hết, chúng ta cần phải xem xét những sản vật sẵn có ở đây để xuất cảng nhƣ than đá, kẽm, chì, gỗ và các thứ lâm sản khác nhƣ cà phê, chè, quả cây, gạo, ngô và da súc vật…” [8, tr. Vì vậy, thực dân Pháp đã đẩy nhanh tốc độ xây dựng cơ sở công- thƣơng nghiệp ở Vinh- Bến Thủy, nơi đây thành trung tâm quan trọng trong công cuộc khai thác thuộc địa.
- Thực dân Pháp chiếm đoạt ruộng đất của nông dân: Để phục vụ cho công cuộc khai thác, thực dân Pháp thu gom nhiều đất đai để xây dựng các sân bay, khu nhà ở, đƣờng sá. Năm 1908, chúng đã chiếm dụng đất trồng trọt của làng Yên Dũng để xây dựng nhà máy Trƣờng Thi. Từ năm 1924, ở Vinh- Bến Thủy có hàng chục nhà máy: diêm, cƣa, sửa chữa xe lửa, điện, cá hộp, rƣợu, trong đó có những nhà máy lớn, tập trung hàng ngàn thợ nhƣ nhà máy sửa chữa xe lửa Trƣờng Thi, Nhà máy Diêm. Tập - 15 - TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đoàn tƣ bản có thế lực nhất ở Trung Kỳ là hãng SIFA.
Hãng này vừa sản xuất diêm, khai thác gỗ và các lâm sản quý để xuất khẩu, vừa kinh doanh cả hàng nhập khẩu, vừa mở đồn điền (Tại Phủ Quỳ, đồn điền của hãng có 1. Ngoài ra, nhiều Công ty và hiệu buôn khác của tƣ bản Pháp cũng có trụ sở, chi điếm, đại lý ở Vinh- Bến Thủy, nhƣ công ty Bắc Kỳ và miền Bắc Trung Kỳ, liên hiệp thƣơng mại Đông Dƣơng. Ngoài tƣ bản Pháp còn có tƣ bản Hoa-Ấn. Ngoài cƣớp ruộng đất để xây dựng các trung tâm công nghiệp, thực dân Pháp còn ra sức cƣớp ruộng đất của nông dân để lập các đồn điền cà phê, chè, lúa và các loại khác.
Chúng kết luận, “Đất đai ở đây là đất badan đã phân hủy nên rất màu mỡ. Đất đỏ Phủ Quỳ có thể tốt hơn đất đỏ Nam Kỳ, và dân ở đây không đến nỗi thƣa thớt. Ngƣời kinh vốn quen với chế độ làm công, hoặc do nghèo khổ tự họ buộc phải tìm đến đồn điền để kiếm việc làm” [116, tr. Dựa vào đạo dụ do vua Đồng Khánh năm 1888, công nhận ngƣời Pháp ở Đông Dƣơng có quyền sở hữu bất động sản, ngày 15-10-1890, Toàn quyền Đông Dƣơng ban hành Nghị định, cho phép mỗi nhà tƣ bản Pháp đƣợc chiếm 500 hécta đất, bọn điền chủ thực dân ra sức chiếm đất để lập đồn điền.
Theo báo cáo của Sở công chính Trung Kỳ, đến năm 1923, riêng vùng Nghĩa Đàn đã có 10 đồn điền chiếm trên 100 ha. Năm 1925, toàn tỉnh có 3 đồn điền chiếm tới 3.761 ha, đến năm 1929 lên tới 7. Riêng đồn điền của Vante ở Phủ Quỳ (Nghĩa Đàn) rộng 4. Về mặt quản lý, các đồn điền này đƣợc tổ chức theo mô hình làng Việt truyền thống, tuy nhiên mỗi đồn điền đều có các điếm canh và binh lính canh gác khá nghiêm ngặt.
Mô hình này đƣợc tác giả Lê Văn Túc nhận định “…những đồn điền ở Nghệ Tĩnh gần giống các thái ấp thời phong kiến Châu Âu” [116, tr. Kỹ thuật canh tác, chủ yếu thủ công, dựa vào sức lao động của lực lƣợng công nhân nông nghiệp. Đây là nét đặc trƣng của tƣ bản điền địa tại Việt Nam. Thực dân Pháp còn lập cơ quan Sở đặt điền ở các tỉnh với danh nghĩa quản lý đất đai, nhƣng bản chất đó là cơ quan giúp bọn đế quốc và địa chủ tập - 16 - TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com trung ruộng đất về tay mình.
Cơ quan này chuyên đi “điều tra thực trạng đất đai” xem vùng nào đƣợc cấp giấy, vùng nào còn trống, kể cả những nơi ngƣời nông dân phải rất vất vả để khai hoang, nhƣng những phần đất “không đƣợc cấp giấy” đó lần lƣợt lọt vào tay bọn đế quốc và địa chủ thân Pháp. Ngoài ra, thực dân Pháp dung túng cho bọn địa chủ phong kiến, cƣờng hào địa phƣơng, lũng đoạn chiếm đoạt ruộng đất của nông dân. Năm 1923, tri huyện Thanh Chƣơng cắt cho Nguyễn Trƣờng Viễn (Ký Viễn) 2 ha làm đồn điền, sau đó hắn chiếm hàng trăm ha, rào chắn cả đƣờng đi, lối lại của nhân dân làm của riêng. Cao Xuân Dục, Đặng Oánh (Diễn Châu), Thái Thị Vực (Yên Thành) chiếm giữ hàng trăm mẫu đất.
Ở huyện Quỳnh Lƣu, trƣớc cách mạng Tháng Tám có khoảng 20 địa chủ lớn, mỗi địa chủ chiếm trên dƣới 100 mẫu ruộng đất, cha con Trần Hiến Bạch chiếm cả một vùng đất đai rộng lớn ở Trịnh Môn để lập đồn điền, Đỗ Khuyến (tức Hội Hoàng) ở Quỳnh Thiện chiếm hàng trăm mẫu lập đồn điền ở Bến Sặm và bao chiếm cả rừng thông Hoàng Mai… Bọn chúng cấu kết chặt chẽ với thực dân Pháp, trở thành những tay sai đắc lực phục vụ cho công cuộc cai trị nông thôn và nông dân Nghệ An. Một bộ phận ruộng đất hết sức quan trọng ở nông thôn Nghệ An là ruộng công và nửa ruộng công, thực dân Pháp và chính quyền phong kiến địa phƣơng có những cách sử dụng khác nhau tùy thuộc vào địa bàn, có nơi chúng đem đấu giá, bỏ vào quỹ thôn với danh nghĩa là cứu tế dân chúng những ngày giáp hạt nhƣng thực chất là để chè chén nhƣ ở Thanh Cát, Hƣng Xá (Thanh Chƣơng); nơi nào không thể lũng đoạn hết thì một phần chúng chia theo suất đinh, một phần bán đấu giá nhƣ ở Tiên Thành, Mã Thành (Yên Thành), và những cuộc đấu giá này chỉ có địa chủ có sẵn tiền trong tay mua hoặc cƣờng hào lợi dụng địa vị chiếm đoạt hết, nhƣ Thái Trinh ở xã Mã Thành đã dùng uy thế chiếm đoạt hàng trăm mẫu ruộng công. Những diện tích ruộng công nông dân đƣợc chia, vì sự o ép, họ buộc phải bán đi. Vì vậy, diện tích ruộng công trong tay cƣờng hào, địa chủ nông thôn khá lớn, nhƣ ở - 17 - TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Tiên Thành, địa chủ chiếm 32%, ở Mã Thành địa chủ chiếm 39% diện tích ruộng công và nửa ruộng công.
Lợi dụng thế lực nhà Chung, địa chủ công giáo cũng tăng cƣờng cƣớp đất của nông dân. Các xứ đạo lớn nhƣ Xã Đoài, Nhân Hòa, Cửa Lò (Nghi Lộc), Đồng Tháp (Diễn Châu), Thuận Nghĩa (Quỳnh Lƣu), Bảo Nham (Yên Thành), Bút Đà (Đô Lƣơng), Cầu Rầm (Vinh) chiếm dụng nhiều ruộng đất. Địa chủ nhà Chung Xã Đoài cƣớp đoạt 7.804 mẫu ruộng đất. Tính đến trƣớc cách mạng Tháng Tám “cả Nghệ - Tĩnh nhà thờ chiếm 15.17] Ở Nghệ An, không có nhiều địa chủ lớn nhƣ ở Bắc Kỳ và Nam Kỳ, nhƣng đội ngũ địa chủ cho phát canh thu tô rất đông đảo.
Võ Nguyên Giáp và Trƣờng Chinh đã khẳng định “Ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ có hạng tiểu địa chủ chỉ có mƣơi mƣời lăm mẫu ruộng cho cấy rẽ ngồi không mà hƣởng địa tô” [114, tr. Nhà nghiên cứu Vũ Huy Phúc đã trích lại Yves Henry bảng thống kê thực trạng vấn đề này ở tỉnh Nghệ An nhƣ sau: Bảng1.1: Thống kê thực trạng ruộng đất ở Việt Nam thời kỳ Pháp thuộc: Nam Bộ Bắc Bộ Trung Bộ Nghệ An Chủ sở Hữu Có dƣới Số chủ 85.650 01 mẫu Tỷ lệ 33,68% 61,63% 68,5% 73,2% Có trên Số chủ 2.693 252 51 8 100 mẫu Tỷ lệ 1,04% 0,002% 0,008% 0,007% Nguồn: Tổng hợp từ tài liệu về Đông Dƣơng 1913-1951 [85, tr.