PHẦN MỞ ĐẦU _ Xây dựng thị trường chứng khoán phù hợp với định hướng đổi mới và _ _ phát triển nên kinh tế đất nước là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta nhằm tạo một kênh huy động vốn dài hạn cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Định hướng này đã được tiếp tục khẳng định trong -, văn kiện Đại hội DX của Đảng là: "7go lập đông bộ các yếu tố thị trường;. đổi mới và nâng cao hiệu lực quản lý kinh tế của Nhà nước. Phát triển thị _.IrHỜng vốn và tiên tệ, nhất là thị trường vốn trung và đài hạn.
Tổ chức và vận hành an toàn, hiệu quả thị trường chứmg khoán, thị trường bảo hiểm, từng bước mở rộng quy mô và phạm vì hoạt động kế cả việc thu hút vốn nước ngoài". Để đâm bảo cho thị trường chứng khoán vận hành được an toàn, có hiệu - quả, công khai, công bằng, bảo vệ được quyền, lợi ích hợp pháp của người đầu tư và duy trì được sự cạnh tranh lành mạnh trên thị trường thì mọi quan hệ phát sinh trong lĩnh vực này đều cần phải có sự điều chỉnh của pháp luật, hay nói cách khác là phải có một khung pháp lý đồng bộ cho hoạt động của thị trường. Trong những năm qua Chính phủ, Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước đã có nhiều cố gắng trong việc xây dựng khung pháp lý đồng bộ cho hoạt động thị trường. Bên cạnh việc xây dựng các văn bản pháp quy để điều chỉnh các.
quan hệ phát sinh trên các lĩnh vực phát hành, kinh doanh, dịch vụ chứng khoán v. thì việc kịp thời ban hành các quy định vẻ giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán là một tất yếu khách quan. Hoạt động quản lý phát hành, kinh doanh, dịch vụ chứng khoán chỉ thực sự có hiệu quả và thị trường chứng khoán chỉ hoạt động an toàn, công To _ bằng và bảo vệ được người đầu tư khi những tranh chấp, những vi phạm các _quy định về quản lý trên thị trường chứng khoán được giải quyết kịp thời. Thực tiễn cho thấy có rất nhiều vấn đề có thể nảy sinh tranh chấp trong __ hoạt động chứng khoán như: việc thực hiện hợp đồng đã cam kết giữa công ty chứng khoán với người đầu tư về hoạt động môi giới; các hoạt động về cầm cố, thế chấp với thành viên lưu ký; hoạt động uy quyền giữa người đầu tư với công ty chứng khoán hoặc giữa người đâu tư với nhau.
Hiện nay pháp luật nói chung về giải quyết tranh chấp còn chưa thực - sự hoàn thiện, pháp luật về trọng tài, về hội đồng hoà giải cũng cồn nhiều bất cập. Pháp luật về giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực chứng khoán mới chỉ đặt ra những quy định chung nhất. Do vậy, việc tim ra giải pháp cho việc hoàn thiện các quy định của pháp luật về giải quyết tranh chấp nói chung và tranh chấp trong lĩnh vực chứng khoán nói riêng là một nhiệm vụ tương đối quan trọng cho cả trước mắt và lâu dài trong quá trình phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam. Mặt khác, nó còn góp phần vào việc xây dựng, hoàn thiện Luật (Pháp lệnh) Chứng khoán sau này.
ee CHUONG 1 NHUNG VAN DE CHUNG VE GIAI QUYET TRANH CHAP VA VAI TRO CUA PHAP LUAT VE GIAI QUYET TRANH CHAP TREN THI TRUONG CHUNG KHOAN “1.11 Thị trường chứng khoán và sự cần thiết của việc giải quyết tranh chấp trên thị trường chứng khoán Thị trường chứng khoán hay thị trường vốn là một bộ phận rất quan trọng của thị trường tài chính, là nơi trao đổi, mua bán các loại chứng khoán dài hạn bao gồm: cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư và các loại chứng khoán khác. Thị trường chứng khoán còn là thị trường huy động vốn dài hạn chủ yếu thông qua phát hành chứng khoán được coi là thị trường huy động vốn trực tiếp không qua trung gian, là kênh huy động vốn trung và dài hạn chủ yếu phục vụ cho nhu cầu đầu tư phát triển nền kinh tế, nó đóng vai trò thiết yếu trong việc huy động, phân phối và kiểm soát vốn một cách có hiệu quả trong nền kinh tế hiện đại. Đây là thị trường phức tạp, hoạt động mang tính riêng biệt với các quy luật chỉ phối khá khắc nghiệt so với các thị trường khác. Hoạt động của thị -_ trường có thể ảnh hưởng toàn diện đến tình hình phát triển kinh tế, chính trị, xã hội của quốc gia và tuỳ thuộc vào trình độ phát triển nền kinh tế thị trường của mỗi nước sẽ có tác động, ảnh hưởng đến môi trường và thị trường quốc tế.
Những ưu việt của thị trường chứng khoán là thông qua thị trường chứng khoán, Chính phủ, các doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế có thể 7 xử phát hành cổ phiếu, trái phiếu để huy động vốn cho sản xuất kinh doanh, cho đầu tư phát triển, cho các nhu cầu khác của ngân sách nhà nước, khuyến khích tiết kiệm và đâu tư, phát triển thông qua thu nhập, lợi tức và. giá cả cổ phiếu, trái phiếu. Thông qua thị trường chứng khoán, người đầu tư -. chứng khoán lựa chọn đầu tư khoản tiên tiết kiệm của mình vào những lĩnh vực kinh tế, những doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả.
Thị trường chứng _ khoán cũng thúc đẩy, khuyến khích cạnh tranh phát triển thông qua giá cả ¬cổ phiếu, trái phiến, từ đó, doanh nghiệp tự điều chỉnh lại sản xuất kinh - doanh. Chỉ số chứng khoán, su tăng giảm giá cổ phiếu, trái phiếu, phản ánh hiệu quả sản xuất kinh doanh và thực trạng nên kinh tế. Thị trường chứng khoán là công cụ để tham gia hội nhập có hiệu quả vào nền kinh tế thế giới. Bên cạnh những ưu việt nêu trên, thị trường chứng khoán cũng có những mặt trái của nó.
Vì vậy, các nhà quản lí thị trường cần phải có biện pháp ngăn ngừa và hạn chế những khuyết tật, rủi ro của thị trường chứng khoán nhằm mục đích đảm bảo cho thị trường hoạt động an toàn, công bang, minh bach va giảm thiểu rủi ro hệ thống, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư. Thời gian qua cho thấy ngay thị trường chứng khoán thế giới cũng có lúc chao đảo như đợi tấn công vào đồng Baht Thái Lan tháng 7/1997. Hiện tượng là người đầu cơ thực hiện một cuộc bán khống rất lớn hoặc mua bảo chứng, nếu giá chứng khoán giảm thì họ thu được lợi lớn nhưng nếu giá chứng khoán tăng liên tục thì người đâu cơ sẽ bị phá sản dẫn đến làm mất ổn định thị trường. Trước đây, Luật Chứng khoán Nhật Bản cho phép hoạt động bán khống chứng khoán.
Đến năm 1997, nên kinh tế Nhật Bản cũng bị ảnh hưởng bởi cuộc khủng hoảng tài chính tiền tê của Chau A. Nam 1998, Nhật Bản đã cấm các hoạt động bán khống trên thị trường chứng khoán (mặc dù đây là biện pháp tình thế). ng TÂN nàn Do thị trường chứng khoán là một thể chế tài chính bậc cao, rất nhạy "+ cam của nền kinh tế thị trường, luôn tiểm ẩn rủi ro và bất ồn định nên mỗi hành vi vi phạm trong thị trường chứng khoán hay mỗi tranh chấp về quyền và lợi ích của các nhà đầu tư nếu không được xử lí và giải quyết kịp thời sẽ góp phần làm mất ổn định thị trường dẫn đến thị trường bị chao đảo và sup đ. Tranh chấp phát sinh trên thị trường chứng khoán là một trong những loại tranh chấp về kinh tế chỉ xuất hiện khi thị trường chứng khoán ra đời và .cấc tranh chấp này rất đa dạng như: tranh chấp giữa công tỉ chứng khoán ` với khách hàng, giữa các công tỉ chứng khoán thành viên với nhan, tranh chấp giữa công tỉ chứng khoán với tổ chức phát hành, giữa công ti chứng khoán với cá nhân, tổ chức nước ngoài.
Các tranh chấp này liên quan đến rất nhiều lĩnh vực như phát hành, kinh doanh, giao dịch chứng khoán. Trong mỗi loại tranh chấp này lại được biểu hiện dưới các hình thức khác nhau. Ví dụ như: Trong tranh chấp giữa công ti chứng khoán với khách hàng có các tranh chấp về việc không tách bạch nguồn tiền và chứng khoán của khách hàng với tài sản của công (i, không ưu tiên thực hiện lệnh mua, bán của khách hàng trước lệnh mua, bán của CÔng ti. Vấn đề giải quyết tranh chấp phát sinh trong Ính vực chứng khoán đã được Luật Chứng khoán một số nước qui định và đưa ra các hình thức, căn cứ giải quyết tranh chấp trong hoạt động kinh doanh chứng khoán như: Luật Chứng khoán (1933) và Luật giao dịch chứng khoán (1934), Luật Chứng khoán Chính phủ (1986), Luật Công ti, Luật bảo vệ nhà đầu tư của Mỹ; Luật Chứng khoán và Kinh doanh Chứng khoán (1947), Luật Tín thác đầu tr (1957), Luật Công tỉ (1971), Luật Quản lí tư vấn đầu tự chứng khoán (1986) của Nhật, Luật Chứng khoán (1999) và Luật Trọng tài (1995) của Trung Quốc; Luật Chứng khoán của Thái Lan; Thật Chứng khoán của Hàn Quốc.
Các Luật này là cơ sở giải quyết tranh chấp trong tất cả các lĩnh vực kinh doanh, địch vụ về chứng khoán. Ở Việt Nam, vấn đề giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực kinh tế được - qui định'tại Điều 12 của Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế,_ _ trong đó vấn đề giải quyết tranh chấp phát sinh trong lĩnh vực chứng khoán. được qui định tại Khoản 3, Điều 12 Pháp lệnh này và Điều 79, Nghị định : 48/1995/NĐ-CP ngày 11/7/1998 của Chính phủ về chứng khoán và thị x / "trường chứng khoán cũng quy định việc giải quyết tranh chấp về chứng : khoán trên thị trường tập trung. Những văn bản quy phạm pháp luật này chỉ mới dừng lại ở những qui định mang tính nguyên tắc, chung chung chưa rõ ràng, cụ thể.
Thực tế các tranh chấp phát sinh trong lĩnh vực chứng khoán rất hay xay ra và việc giải quyết các tranh chấp này ở các nước có thị trường chứng khoán thường gặp không ít khó khăn do tính chất đặc thù của các loại tranh chấp đó. Nói chưng, việc giải quyết các tranh chấp trong lĩnh vực chứng khoán đồi hỏi phải được tiến hành nhanh gọn, kịp thời với thủ tục đơn giản, chặt chế, và được tiến hành bởi một cơ quan có chuyên môn cao về thị trường chứng khoán. Vì vậy, việc tiến hành giải quyết các tranh chấp này nếu theo trình tự, thủ tục và cơ quan giải quyết tranh chấp như đối với các tranh chấp thông thường khác thì sẽ không đấp ứng được yêu cầu.