CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU 1.1 TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG BÁN LẺ VÀ DOANH NGHIỆP KINH DOANH BÁN LẺ VIỆT NAM Việt Nam là một quốc gia có thị trường bán lẻ đầy sôi động và đa dạng về nhu cầu khi tỷ lệ dân số trẻ cao và dân số khoảng 90 triệu dân. Ngành thương mại bán lẻ của Việt Nam đang đóng góp rất lớn vào GDP hằng năm và giải quyết khoảng 6 triệu lao động cho xã hội (Nghiêm, 2012). Khi siêu thị đầu tiên xuất hiện tại Việt Nam vào tháng 10 năm 1993 (Hiệp, 2011), thị trường bán lẻ hiện đại của Việt Nam đã có bước phát triển một cách thần tốc. Chỉ sau 15 năm, đến năm 2008, tổ chức A.
Kearney công bố Việt Nam trở thành thị trường bán lẻ hấp dẫn nhất thế giới. Chính vì thế, khi thị trường bán lẻ của Việt Nam bắt đầu mở cửa vào ngày 01/01/2009, rất nhiều người hi vọng về việc nhiều nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam tìm kiếm cơ hội đầu tư. Tuy nhiên, cùng với khủng hoảng kinh tế toàn cầu, Việt Nam đã rơi một cách không phanh từ đỉnh cao chỉ trong vòng 3 năm đã không còn được xếp hạng vì rớt khỏi top 30. Mãi tới năm 2017, Việt Nam mới quay lại danh sách này.
Có thể thấy, tuy được kỳ vọng rất nhiều nhưng thị trường bán lẻ của Việt Nam vẫn còn những bất cập khiến cho thị trường này không có được sự ổn định và phát triển bền vững. Thứ nhất, tỷ lệ dân số Việt Nam tại nông thôn còn cao, chiếm 66,9% (Tổng cục thống kê, 2014). Trong khi đó, đại đa phần các hệ thống bán lẻ hiện đại của chúng ta chỉ tập trung tại các thành phố và thị xã (Promocen, 2015). Không gian phát triển của các doanh nghiệp kinh doanh bán lẻ còn khá hẹp.
Thứ hai, thủ tục hành chính cồng kềnh, không minh bạch, trong khi bộ máy hành chính thì quan liêu, sách nhiễu đã ngăn cản các nhà đầu tư vào thị trường bán lẻ của Việt Nam. Điều này đã được Diễn đàn Kinh tế Thế giới (World Economic Forum) (2014) chỉ rõ khi xếp hạng Việt Nam đứng thứ 121/148 về tiêu chí “Minh bạch chính sách Chính Phủ” và 116/148 về tiêu chí “Thủ tục thành lập doanh nghiệp”. Việc áp dụng công nghệ hiện đại trong các doanh nghiệp rất chậm, mặc dù người dân Việt Nam luôn được tiếp cận các công nghệ mới. 2 Tiếp theo, một lý do nữa là việc quản trị chuỗi cung ứng của các doanh nghiệp kinh doanh bán lẻ Việt Nam thiếu tính chuyên nghiệp, mang tính cục bộ, địa phương (Giang và Dương, 2014).
Tính liên kết của các doanh nghiệp tham gia vào chuỗi cung ứng cho thị trường bán lẻ khá lỏng lẻo khi các nhà cung cấp mạnh ai nấy rao, các nhà bán lẻ mạnh ai nấy bán. Do đó, thường xuyên xảy ra câu chuyện, nhà cung cấp than trời vì khó có đường vào siêu thị do các quy định rắc rối, chèn ép của nhà bán lẻ, trong khi nhà bán lẻ lại “đau khổ” vì chất lượng hàng hóa của nhà cung cấp không ổn định. Việc thiếu đi một “nhạc trưởng” điều khiển sự hoạt động của các thành viên trong chuỗi cung ứng khiến cho hoạt động của chuỗi trở nên hỗn loạn và thiếu các chiến lược xuyên suốt và có hiệu quả cao.1: GDP bình quân đầu người của Việt Nam (Nguồn: KIS, 2017) Việt Nam đang trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế, là một quốc gia có vị trí địa lý trải dài theo chiều rộng với số dân đông thứ 8 châu Á. Theo KIS (2017), tăng trưởng kinh tế Việt Nam ổn định và vẫn phát triển đều đặn với GDP bình quân đầu người trong giai đoạn 2010-2016 là 8.
Tăng trưởng kinh tế đã giúp cho cuộc sống của người 3 dân được nâng cao (Xem hình 1. Hệ quả của việc phát triển này đã dẫn đến gia tăng chi tiêu trong cộng đồng dân cư. Tổng giá trị hàng hóa bán lẻ của Việt Nam tăng vọt từ chỉ đóng góp 70% vào GDP trong năm 2010 đã lên gần 76% trong năm 2016. Chính vì vậy, Việt Nam đang là một thị trường đầy tiềm năng và đầy thách thức, nhất là tiềm năng của thị trường Việt Nam trong lĩnh vực bán lẻ là rất lớn.
Các số liệu thực tế cũng cho thấy sự tăng trưởng vượt bậc của Việt Nam trong bán lẻ tạp hóa hiện đại so với những nước khác trong khu vực.2: Tổng giá trị hàng hóa và bán lẻ Việt Nam (Nguồn: Tổng cục thống kê, trích theo KIS, 2017) Một trong các thách thức hiện nay là việc phải xây dựng một chuỗi cung ứng được trải dài hơn 3000 km từ Bắc chí Nam với nhiều dân tộc và nhiều dạng văn hóa khác nhau nhằm phục vụ sự phát triển của doanh nghiệp. Việc cấu hình mạng lưới phân phối sao cho phù hợp với từng vùng văn hóa khác nhau, công tác kiểm soát tồn kho nhằm tối thiểu hóa chi phí đặt hàng và chi phí tồn kho, trong khi vẫn duy trì được khả năng cung ứng hàng hóa liên tục, xây dựng chiến lược phân phối hợp lý để các trung tâm phân phối đảm nhiệm tốt công tác điều phối cung ứng nhưng bản thân lại không có tồn kho, bài toán quản lý và chia sẻ thông tin cho các thành viên trong chuỗi cung ứng sao cho vừa có thể 4 giữ được bí mật kinh doanh của doanh nghiệp vừa không làm cho hoạt động của toàn chuỗi bị ngừng trệ, … là các vấn đề mà doanh nghiệp kinh doanh bán lẻ cần phải giải quyết nhanh chóng. Có thể nói, làm sao để chuỗi cung ứng hoạt động thông suốt là một vấn đề rất quan trọng cho các doanh nghiệp Việt Nam, nhất là các doanh nghiệp kinh doanh bán lẻ, vì nó là mức phát triển cao nhất của Logistics (Vân và Đạt, 2010) và giúp cho doanh nghiệp tiết kiệm được chi phí do việc quản lý được thống nhất và đồng bộ. Nó sẽ đem lại sự thành công của chuỗi cung ứng và sẽ mang lại lợi thế cạnh tranh không nhỏ cho các doanh nghiệp (Ravinder và ctg, 2015).1 dưới đây cho thấy rõ các doanh nghiệp kinh doanh bán lẻ Việt Nam có xu hướng hoạt động vùng miền rõ rệt.
Các tập đoàn bán lẻ Việt Nam mang tính biệt lập (Nghiêm, 2012), hoạt động đơn lẻ và thiếu tính liên kết (Phong, 2008). Một đặc điểm nữa trong các hệ thống phân phối của Việt Nam là kênh phân phối dài, nhiều đại lý (Tư, 2009). Điều này là do đặc thù địa lý của Việt Nam khi đất nước trải dài hơn 3000 km. Việc thiết lập kênh phân phối như thế sẽ giúp các doanh nghiệp kinh doanh bán lẻ Việt Nam có thể hiện diện tại hầu hết các tỉnh thành trên toàn quốc, cũng như đảm bảo nguồn hàng phân phối ra thị trường không bị thiếu hụt.
Tuy nhiên, nó cũng dẫn tới việc gia tăng chi phí điều hành chuỗi cung ứng, khả năng phản ứng với sự thay đổi của môi trường kinh doanh kém và gây ra nhiều rủi ro nếu hệ thống vận hành không hiệu quả. Những vấn đề khác về hệ thống cơ sở hạ tầng giao thông còn kém, chi phí vận tải và chi phí xây dựng các tổng kho phân phối quá cao khiến các doanh nghiệp kinh doanh bán lẻ Việt Nam bị “trói chặt”, chỉ có thể hoạt động hiệu quả quanh “sân nhà”. Càng phát triển ra xa trung tâm, các hệ thống bán lẻ Việt Nam hoạt động càng kém hiệu quả và không có khả năng cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài. Điển hình là việc thường xuyên bị “đứt hàng”, danh mục hàng hóa ít dẫn đến kém sức hấp dẫn khách hàng, tỷ lệ hao hút do vận chuyển cao, … đã góp phần làm giảm hiếu quả hoạt động của các doanh nghiệp kinh doanh bán lẻ Việt Nam.
Việc thiếu sự định hướng, thiếu tập trung về vận tải, kho bãi, phân phối khiến cho các chuỗi cung ứng bán lẻ Việt Nam không thể 5 đem lại nhiều giá trị gia tăng cho khách hàng, dẫn tới mất lợi thế cạnh tranh ngay trên “sân nhà” của mình.1: Thống kê các hệ thống bán lẻ tại Việt Nam Đại siêu thị - Hypermarket STT Chuỗi Miền Bắc Miền Trung Miền Nam Hình thức 1 Co.opExtra 2 Liên doanh và độc lập 2 AEON Mall 1 3 Độc lập 3 MM Mega Market 5 5 9 Độc lập 4 E’smart 1 Độc lập Siêu thị - Supermarket 1 Co.opmart 5 20 60 Hầu hết độc lập 2 Big C 14 6 13 Hầu hết độc lập 3 AEON Citimart 18 Hầu hết độc lập 4 AEON Fidimart 24 Hầu hết độc lập 5 Vinmart 20 1 28 Phụ thuộc 6 Lotte mart 2 2 10 Hầu hết độc lập 7 Hapro mart 16 Hầu hết độc lập 8 Unimart-Seika 4 Hầu hết độc lập Siêu thị mini 1 C Express 10 Chỉ tại TPHCM 2 Bachhoaxanh 46 Chỉ tại TPHCM 3 SatraFoods 85 Chỉ tại TPHCM 4 Co.op Food 100 Phụ thuộc 5 Vinmart+ 406 35 367 Hầu hết tại Hà Nội và TPHCM Cửa hàng tiện lợi – Convenience store 1 Ministop 71 Chỉ tại TPHCM 2 Co.op 87 Chỉ tại TPHCM 3 Family mart 126 Chủ yếu tại TPHCM 4 Shop and Go 20 108 Hầu hết tại Hà Nội và TPHCM 5 B’s mart 160 Chỉ tại TPHCM 6 Circle K 51 157 Hầu hết tại Hà Nội và TPHCM 7 Hapromart 20 Chỉ tại Hà Nội 8 Foodcomart 1 38 Chủ yếu tại TPHCM (Nguồn: KIS, 2017) 6 Mặc dù vậy, theo hình 1.3, tỷ lệ cửa hàng trên 1 triệu dân của Việt Nam rất thấp khi so sánh với các quốc gia phát triển khác ở Đông Á. Do đó, thị trường Việt Nam còn rất nhiều tiềm năng và các doanh nghiệp kinh doanh bán lẻ đang cố gắng khắc phục các nhược điểm trong hoạt động của mình nhằm lấp đầy những chỗ trống và cũng nhằm đem lại chút lợi thế trước khi các hệ thống bán lẻ tiến vào giai đoạn cạnh tranh trực diện đầy rủi ro và khốc liệt. Việc cố gắng mở rộng chuỗi càng nhanh càng tốt cũng nhằm để đối phó với các doanh nghiệp nước ngoài chuẩn bị xâm nhập vào Việt Nam. Đây là thời gian các hệ thống tăng trưởng nhờ vào việc mở rộng hệ thống và công nghệ trong nội bộ của ngành.
Sự xuất hiện và mở rộng các chuỗi theo hướng quy mô lớn đòi hỏi nhiều vốn và đã làm thay đổi đáng kể trong phương thức điều hành bán lẻ. Trong giai đoạn này, rất ít số doanh nghiệp tiếp tục tăng doanh số bán lẻ. Xu hướng hội nhập theo chiều dọc sẽ cao hơn, được minh chứng bằng việc phát triển mối quan hệ gần gũi giữa các nhà sản xuất, nhà cung ứng, các nhà bán lẻ và các nhà bán sỉ.