Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động chuỗi cung ứng tại doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam

Luận án tiến sĩ kinh tế nghiên cứu nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động của chuỗi cung ứng tại các doanh nghiệp kinh doanh, phân tích chuyên sâu, xây dựng mô hình lý

Trường đại học

Trường Đại Học Lạc Hồng

Chuyên ngành

Quản Trị Kinh Doanh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án Tiến Sĩ

2018

184
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về chuỗi cung ứng trong doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam

Chuỗi cung ứng đóng vai trò quan trọng trong hoạt động của doanh nghiệp bán lẻ tại Việt Nam. Sự phát triển nhanh chóng của thị trường bán lẻ đã tạo ra nhiều cơ hội và thách thức cho các doanh nghiệp. Nhân tố ảnh hưởng đến chuỗi cung ứng bao gồm nhiều yếu tố như công nghệ, quản lý tồn kho, và mối quan hệ giữa các bên trong chuỗi. Việc tối ưu hóa chuỗi cung ứng không chỉ giúp giảm chi phí mà còn nâng cao hiệu quả kinh doanh. Theo nghiên cứu, các doanh nghiệp cần chú trọng đến việc cải thiện quản lý chuỗi cung ứng để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách hàng.

1.1. Các yếu tố tác động đến chuỗi cung ứng

Các yếu tố tác động đến hoạt động của chuỗi cung ứng bao gồm cung ứng hàng hóa, quản lý tồn kho, và chi phí logistics. Mỗi yếu tố này đều có ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Việc quản lý tồn kho hiệu quả giúp doanh nghiệp duy trì nguồn hàng ổn định, giảm thiểu rủi ro trong chuỗi cung ứng. Hơn nữa, chi phí logistics cũng cần được kiểm soát chặt chẽ để đảm bảo lợi nhuận. Do đó, các doanh nghiệp cần có chiến lược rõ ràng để tối ưu hóa từng yếu tố trong chuỗi cung ứng.

1.2. Tối ưu hóa chuỗi cung ứng

Tối ưu hóa chuỗi cung ứng là một trong những chiến lược quan trọng giúp doanh nghiệp nâng cao hiệu quả kinh doanh. Việc áp dụng công nghệ mới trong quản lý chuỗi cung ứng, như hệ thống ERP, có thể giúp doanh nghiệp theo dõi và quản lý thông tin một cách hiệu quả hơn. Đối tác cung ứng cũng cần được lựa chọn kỹ lưỡng để đảm bảo chất lượng hàng hóa và dịch vụ. Sự hợp tác giữa các bên trong chuỗi cung ứng sẽ tạo ra giá trị gia tăng cho cả doanh nghiệp và khách hàng. Điều này không chỉ giúp doanh nghiệp tiết kiệm chi phí mà còn nâng cao sự hài lòng của khách hàng.

II. Rủi ro trong chuỗi cung ứng

Rủi ro trong chuỗi cung ứng là một vấn đề cần được các doanh nghiệp bán lẻ chú trọng. Các rủi ro này có thể đến từ nhiều nguồn khác nhau như biến động thị trường, sự thay đổi trong nhu cầu của khách hàng, hoặc sự cố trong quá trình vận chuyển. Việc nhận diện và quản lý rủi ro là rất quan trọng để đảm bảo hoạt động của chuỗi cung ứng diễn ra suôn sẻ. Doanh nghiệp cần xây dựng các kịch bản ứng phó với rủi ro để giảm thiểu tác động tiêu cực đến hoạt động kinh doanh.

2.1. Các loại rủi ro trong chuỗi cung ứng

Có nhiều loại rủi ro trong chuỗi cung ứng, bao gồm rủi ro về cung ứng, rủi ro về vận chuyển, và rủi ro về tài chính. Rủi ro về cung ứng thường liên quan đến việc không đảm bảo nguồn hàng, trong khi rủi ro về vận chuyển có thể do sự cố giao thông hoặc thiên tai. Rủi ro tài chính có thể phát sinh từ việc thay đổi tỷ giá hoặc lãi suất. Do đó, doanh nghiệp cần có các biện pháp phòng ngừa và ứng phó kịp thời để giảm thiểu ảnh hưởng của các rủi ro này đến hoạt động của chuỗi cung ứng.

2.2. Giải pháp quản lý rủi ro

Để quản lý rủi ro trong chuỗi cung ứng, doanh nghiệp cần xây dựng một hệ thống quản lý rủi ro hiệu quả. Việc phân tích và đánh giá rủi ro định kỳ sẽ giúp doanh nghiệp nhận diện sớm các vấn đề tiềm ẩn. Hơn nữa, việc thiết lập mối quan hệ chặt chẽ với đối tác cung ứng cũng là một giải pháp quan trọng để giảm thiểu rủi ro. Sự hợp tác này không chỉ giúp doanh nghiệp có được thông tin kịp thời mà còn tạo ra sự linh hoạt trong việc ứng phó với các tình huống bất ngờ.

07/02/2025
Luận án tiến sĩ kinh tế nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động của chuỗi cung ứng tại các doanh nghiệp kinh doanh bán lẻ việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU 1.1 TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG BÁN LẺ VÀ DOANH NGHIỆP KINH DOANH BÁN LẺ VIỆT NAM Việt Nam là một quốc gia có thị trường bán lẻ đầy sôi động và đa dạng về nhu cầu khi tỷ lệ dân số trẻ cao và dân số khoảng 90 triệu dân. Ngành thương mại bán lẻ của Việt Nam đang đóng góp rất lớn vào GDP hằng năm và giải quyết khoảng 6 triệu lao động cho xã hội (Nghiêm, 2012). Khi siêu thị đầu tiên xuất hiện tại Việt Nam vào tháng 10 năm 1993 (Hiệp, 2011), thị trường bán lẻ hiện đại của Việt Nam đã có bước phát triển một cách thần tốc. Chỉ sau 15 năm, đến năm 2008, tổ chức A.

Kearney công bố Việt Nam trở thành thị trường bán lẻ hấp dẫn nhất thế giới. Chính vì thế, khi thị trường bán lẻ của Việt Nam bắt đầu mở cửa vào ngày 01/01/2009, rất nhiều người hi vọng về việc nhiều nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam tìm kiếm cơ hội đầu tư. Tuy nhiên, cùng với khủng hoảng kinh tế toàn cầu, Việt Nam đã rơi một cách không phanh từ đỉnh cao chỉ trong vòng 3 năm đã không còn được xếp hạng vì rớt khỏi top 30. Mãi tới năm 2017, Việt Nam mới quay lại danh sách này.

Có thể thấy, tuy được kỳ vọng rất nhiều nhưng thị trường bán lẻ của Việt Nam vẫn còn những bất cập khiến cho thị trường này không có được sự ổn định và phát triển bền vững. Thứ nhất, tỷ lệ dân số Việt Nam tại nông thôn còn cao, chiếm 66,9% (Tổng cục thống kê, 2014). Trong khi đó, đại đa phần các hệ thống bán lẻ hiện đại của chúng ta chỉ tập trung tại các thành phố và thị xã (Promocen, 2015). Không gian phát triển của các doanh nghiệp kinh doanh bán lẻ còn khá hẹp.

Thứ hai, thủ tục hành chính cồng kềnh, không minh bạch, trong khi bộ máy hành chính thì quan liêu, sách nhiễu đã ngăn cản các nhà đầu tư vào thị trường bán lẻ của Việt Nam. Điều này đã được Diễn đàn Kinh tế Thế giới (World Economic Forum) (2014) chỉ rõ khi xếp hạng Việt Nam đứng thứ 121/148 về tiêu chí “Minh bạch chính sách Chính Phủ” và 116/148 về tiêu chí “Thủ tục thành lập doanh nghiệp”. Việc áp dụng công nghệ hiện đại trong các doanh nghiệp rất chậm, mặc dù người dân Việt Nam luôn được tiếp cận các công nghệ mới. 2 Tiếp theo, một lý do nữa là việc quản trị chuỗi cung ứng của các doanh nghiệp kinh doanh bán lẻ Việt Nam thiếu tính chuyên nghiệp, mang tính cục bộ, địa phương (Giang và Dương, 2014).

Tính liên kết của các doanh nghiệp tham gia vào chuỗi cung ứng cho thị trường bán lẻ khá lỏng lẻo khi các nhà cung cấp mạnh ai nấy rao, các nhà bán lẻ mạnh ai nấy bán. Do đó, thường xuyên xảy ra câu chuyện, nhà cung cấp than trời vì khó có đường vào siêu thị do các quy định rắc rối, chèn ép của nhà bán lẻ, trong khi nhà bán lẻ lại “đau khổ” vì chất lượng hàng hóa của nhà cung cấp không ổn định. Việc thiếu đi một “nhạc trưởng” điều khiển sự hoạt động của các thành viên trong chuỗi cung ứng khiến cho hoạt động của chuỗi trở nên hỗn loạn và thiếu các chiến lược xuyên suốt và có hiệu quả cao.1: GDP bình quân đầu người của Việt Nam (Nguồn: KIS, 2017) Việt Nam đang trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế, là một quốc gia có vị trí địa lý trải dài theo chiều rộng với số dân đông thứ 8 châu Á. Theo KIS (2017), tăng trưởng kinh tế Việt Nam ổn định và vẫn phát triển đều đặn với GDP bình quân đầu người trong giai đoạn 2010-2016 là 8.

Tăng trưởng kinh tế đã giúp cho cuộc sống của người 3 dân được nâng cao (Xem hình 1. Hệ quả của việc phát triển này đã dẫn đến gia tăng chi tiêu trong cộng đồng dân cư. Tổng giá trị hàng hóa bán lẻ của Việt Nam tăng vọt từ chỉ đóng góp 70% vào GDP trong năm 2010 đã lên gần 76% trong năm 2016. Chính vì vậy, Việt Nam đang là một thị trường đầy tiềm năng và đầy thách thức, nhất là tiềm năng của thị trường Việt Nam trong lĩnh vực bán lẻ là rất lớn.

Các số liệu thực tế cũng cho thấy sự tăng trưởng vượt bậc của Việt Nam trong bán lẻ tạp hóa hiện đại so với những nước khác trong khu vực.2: Tổng giá trị hàng hóa và bán lẻ Việt Nam (Nguồn: Tổng cục thống kê, trích theo KIS, 2017) Một trong các thách thức hiện nay là việc phải xây dựng một chuỗi cung ứng được trải dài hơn 3000 km từ Bắc chí Nam với nhiều dân tộc và nhiều dạng văn hóa khác nhau nhằm phục vụ sự phát triển của doanh nghiệp. Việc cấu hình mạng lưới phân phối sao cho phù hợp với từng vùng văn hóa khác nhau, công tác kiểm soát tồn kho nhằm tối thiểu hóa chi phí đặt hàng và chi phí tồn kho, trong khi vẫn duy trì được khả năng cung ứng hàng hóa liên tục, xây dựng chiến lược phân phối hợp lý để các trung tâm phân phối đảm nhiệm tốt công tác điều phối cung ứng nhưng bản thân lại không có tồn kho, bài toán quản lý và chia sẻ thông tin cho các thành viên trong chuỗi cung ứng sao cho vừa có thể 4 giữ được bí mật kinh doanh của doanh nghiệp vừa không làm cho hoạt động của toàn chuỗi bị ngừng trệ, … là các vấn đề mà doanh nghiệp kinh doanh bán lẻ cần phải giải quyết nhanh chóng. Có thể nói, làm sao để chuỗi cung ứng hoạt động thông suốt là một vấn đề rất quan trọng cho các doanh nghiệp Việt Nam, nhất là các doanh nghiệp kinh doanh bán lẻ, vì nó là mức phát triển cao nhất của Logistics (Vân và Đạt, 2010) và giúp cho doanh nghiệp tiết kiệm được chi phí do việc quản lý được thống nhất và đồng bộ. Nó sẽ đem lại sự thành công của chuỗi cung ứng và sẽ mang lại lợi thế cạnh tranh không nhỏ cho các doanh nghiệp (Ravinder và ctg, 2015).1 dưới đây cho thấy rõ các doanh nghiệp kinh doanh bán lẻ Việt Nam có xu hướng hoạt động vùng miền rõ rệt.

Các tập đoàn bán lẻ Việt Nam mang tính biệt lập (Nghiêm, 2012), hoạt động đơn lẻ và thiếu tính liên kết (Phong, 2008). Một đặc điểm nữa trong các hệ thống phân phối của Việt Nam là kênh phân phối dài, nhiều đại lý (Tư, 2009). Điều này là do đặc thù địa lý của Việt Nam khi đất nước trải dài hơn 3000 km. Việc thiết lập kênh phân phối như thế sẽ giúp các doanh nghiệp kinh doanh bán lẻ Việt Nam có thể hiện diện tại hầu hết các tỉnh thành trên toàn quốc, cũng như đảm bảo nguồn hàng phân phối ra thị trường không bị thiếu hụt.

Tuy nhiên, nó cũng dẫn tới việc gia tăng chi phí điều hành chuỗi cung ứng, khả năng phản ứng với sự thay đổi của môi trường kinh doanh kém và gây ra nhiều rủi ro nếu hệ thống vận hành không hiệu quả. Những vấn đề khác về hệ thống cơ sở hạ tầng giao thông còn kém, chi phí vận tải và chi phí xây dựng các tổng kho phân phối quá cao khiến các doanh nghiệp kinh doanh bán lẻ Việt Nam bị “trói chặt”, chỉ có thể hoạt động hiệu quả quanh “sân nhà”. Càng phát triển ra xa trung tâm, các hệ thống bán lẻ Việt Nam hoạt động càng kém hiệu quả và không có khả năng cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài. Điển hình là việc thường xuyên bị “đứt hàng”, danh mục hàng hóa ít dẫn đến kém sức hấp dẫn khách hàng, tỷ lệ hao hút do vận chuyển cao, … đã góp phần làm giảm hiếu quả hoạt động của các doanh nghiệp kinh doanh bán lẻ Việt Nam.

Việc thiếu sự định hướng, thiếu tập trung về vận tải, kho bãi, phân phối khiến cho các chuỗi cung ứng bán lẻ Việt Nam không thể 5 đem lại nhiều giá trị gia tăng cho khách hàng, dẫn tới mất lợi thế cạnh tranh ngay trên “sân nhà” của mình.1: Thống kê các hệ thống bán lẻ tại Việt Nam Đại siêu thị - Hypermarket STT Chuỗi Miền Bắc Miền Trung Miền Nam Hình thức 1 Co.opExtra 2 Liên doanh và độc lập 2 AEON Mall 1 3 Độc lập 3 MM Mega Market 5 5 9 Độc lập 4 E’smart 1 Độc lập Siêu thị - Supermarket 1 Co.opmart 5 20 60 Hầu hết độc lập 2 Big C 14 6 13 Hầu hết độc lập 3 AEON Citimart 18 Hầu hết độc lập 4 AEON Fidimart 24 Hầu hết độc lập 5 Vinmart 20 1 28 Phụ thuộc 6 Lotte mart 2 2 10 Hầu hết độc lập 7 Hapro mart 16 Hầu hết độc lập 8 Unimart-Seika 4 Hầu hết độc lập Siêu thị mini 1 C Express 10 Chỉ tại TPHCM 2 Bachhoaxanh 46 Chỉ tại TPHCM 3 SatraFoods 85 Chỉ tại TPHCM 4 Co.op Food 100 Phụ thuộc 5 Vinmart+ 406 35 367 Hầu hết tại Hà Nội và TPHCM Cửa hàng tiện lợi – Convenience store 1 Ministop 71 Chỉ tại TPHCM 2 Co.op 87 Chỉ tại TPHCM 3 Family mart 126 Chủ yếu tại TPHCM 4 Shop and Go 20 108 Hầu hết tại Hà Nội và TPHCM 5 B’s mart 160 Chỉ tại TPHCM 6 Circle K 51 157 Hầu hết tại Hà Nội và TPHCM 7 Hapromart 20 Chỉ tại Hà Nội 8 Foodcomart 1 38 Chủ yếu tại TPHCM (Nguồn: KIS, 2017) 6 Mặc dù vậy, theo hình 1.3, tỷ lệ cửa hàng trên 1 triệu dân của Việt Nam rất thấp khi so sánh với các quốc gia phát triển khác ở Đông Á. Do đó, thị trường Việt Nam còn rất nhiều tiềm năng và các doanh nghiệp kinh doanh bán lẻ đang cố gắng khắc phục các nhược điểm trong hoạt động của mình nhằm lấp đầy những chỗ trống và cũng nhằm đem lại chút lợi thế trước khi các hệ thống bán lẻ tiến vào giai đoạn cạnh tranh trực diện đầy rủi ro và khốc liệt. Việc cố gắng mở rộng chuỗi càng nhanh càng tốt cũng nhằm để đối phó với các doanh nghiệp nước ngoài chuẩn bị xâm nhập vào Việt Nam. Đây là thời gian các hệ thống tăng trưởng nhờ vào việc mở rộng hệ thống và công nghệ trong nội bộ của ngành.

Sự xuất hiện và mở rộng các chuỗi theo hướng quy mô lớn đòi hỏi nhiều vốn và đã làm thay đổi đáng kể trong phương thức điều hành bán lẻ. Trong giai đoạn này, rất ít số doanh nghiệp tiếp tục tăng doanh số bán lẻ. Xu hướng hội nhập theo chiều dọc sẽ cao hơn, được minh chứng bằng việc phát triển mối quan hệ gần gũi giữa các nhà sản xuất, nhà cung ứng, các nhà bán lẻ và các nhà bán sỉ.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Nhân tố ảnh hưởng đến chuỗi cung ứng trong doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam" cung cấp cái nhìn sâu sắc về các yếu tố chính tác động đến chuỗi cung ứng trong ngành bán lẻ tại Việt Nam. Tác giả phân tích các yếu tố như quản lý tồn kho, mối quan hệ với nhà cung cấp, và sự thay đổi trong nhu cầu của khách hàng, từ đó chỉ ra tầm quan trọng của việc tối ưu hóa chuỗi cung ứng để nâng cao hiệu quả kinh doanh. Độc giả sẽ nhận được những lợi ích thiết thực từ việc hiểu rõ các nhân tố này, giúp họ có thể áp dụng vào thực tiễn quản lý và phát triển doanh nghiệp của mình.

Nếu bạn muốn tìm hiểu thêm về các khía cạnh liên quan đến hiệu quả kinh doanh, hãy tham khảo bài viết Phân tích hiệu quả kinh doanh của công ty cổ phần thuận đức, nơi bạn sẽ khám phá cách thức tối ưu hóa hoạt động kinh doanh. Ngoài ra, bài viết Luận văn thạc sĩ tài chính ngân hàng nâng cao hiệu quả tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp tại nhtmcp đầu tư và phát triển việt nam chi nhánh sở giao dịch i sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về quản lý tài chính trong doanh nghiệp. Cuối cùng, bài viết Luận văn thạc sĩ chuyên ngành kinh tế xây dựng giải pháp nâng hiệu quả hoạt động kinh doanh tại công ty cổ phần tư vấn xây dựng thủy lợi và cơ sở hạ tầng hải dương sẽ cung cấp thêm những giải pháp cụ thể để cải thiện hiệu quả kinh doanh. Những tài liệu này sẽ mở rộng kiến thức của bạn về các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh trong bối cảnh hiện nay.