phần mở đầu, kết luận, danh mục tham khảo và mục lục, nội dung cụ thể của luận văn được kết cấu thành 3 chương và 8 mục. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP RANH GIỚI QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT 1. Khái niệm, đặc điểm về giải quyết tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất 1. Khái niệm tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất Để làm rõ được khái niệm tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất, ta cần phân tích và đi sâu vào hai tiền tố: Tranh chấp đất đai và ranh giới quyền sử dụng đất.
Thứ nhất, khái niệm về ranh giới và ranh giới quyền sử dụng đất. Ranh giới được hiểu là đường phân giới hạn giữa hai khu vực, hai địa phận liền nhau; là giới hạn phạm vi sử dụng đất của chủ thể liền kề, kế bên, bên cạnh tiếp giáp giữa hai thửa đất với nhau. Ranh giới sử dụng đất đai được xác định bằng mốc giới cụ thể do cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao đất hoặc cho thuê đất thực hiện khi giao đất, cho thuê đất trên thực địa; được ghi trong quyết định giao đất, cho thuê đất và được mô tả trong hồ sơ địa chính. Hiện nay, chưa có định nghĩa cụ thể về ranh giới giữa các bất động sản trong các văn bản pháp luật.
Để hiểu ngắn gọn, ranh giới quyền sử dụng đất được hiểu là giới hạn, giáp ranh giữa hai giữa các bất động sản tiếp giáp liền kề, bên cạnh với nhau. Ta cần lưu ý, ranh giới quyền sử dụng đất giữa các bất động sản liền kề khác với ranh giới địa chính giữa các quận huyện; tỉnh; thị xã… Thứ hai, về tranh chấp đất đai. Thuật ngữ tranh chấp đất đai là thuật ngữ phổ biến trong đời sống xã hội nhằm chỉ những mâu thuẫn, bất đồng xung đột trong việc quản lý và sử dụng đất, nhưng xét dưới góc độ pháp lý thì tranh chấp đất đai được hiểu là gì? Theo Từ điển tiếng Việt thông dụng: “Tranh chấp: Bất đồng, trái ngược nhau”. Như vậy, theo ngôn ngữ học tranh chấp được hiểu là những bất đồng, trái ngược nhau giữa hai hoặc nhiều người trong quan hệ xã hội.
Điều này cho thấy sự tranh chấp phải bắt buộc có sự tham gia của ít nhất hai hay nhiều chủ thể. Trên thực tế, tranh chấp xảy ra ở nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội với 6 những loại hình rất phong phú, đa dạng điển hình nhất là tranh chấp đất đai. Theo từ điển giải thích thuật ngữ luật học: “Tranh chấp đất đai: tranh chấp phát sinh giữa các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật đất đai về quyền và nghĩa vụ trong quá trình quản lý và sử dụng đất đai”. Theo Luật đất đai năm 2013:“Tranh chấp đất đai là tranh chấp về quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai”.
Theo Giáo trình Luật đất đai của Trường Đại học Luật Hà Nội: “Tranh chấp đất đai là sự bất đồng, mâu thuẫn hay xung đột lợi ích, về quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể khi tham gia vào quan hệ pháp luật đất đai”. Như vậy, ta có thể hiểu tranh chấp đất đai là những bất đồng, mâu thuẫn về quyền và nghĩa vụ SDĐ trong quá trình SDĐ giữa những người SDĐ với nhau hoặc giữa họ với tổ chức, cá nhân khác. Tuy nhiên, hiện nay lại có những quan điểm khác nhau về nội dung của tranh chấp đất đai. Chúng ta cần làm rõ tranh chấp đất đai ở nước ta chính là tranh chấp về QSDĐ hay bao gồm cả tranh chấp QSDĐ và các tranh chấp liên quan đến QSDĐ? Hiện nay tồn tại hai luồng quan điểm như sau: Quan điểm thứ nhất cho rằng, tranh chấp đất đai chỉ là tranh chấp về QSDĐ.
Theo đó, tranh chấp đất đai không xác định được là tranh chấp tổng thể các quyền và nghĩa vụ hay chỉ là tranh chấp từng quyền và nghĩa vụ đơn lẻ của người SDĐ do pháp luật đất đai quy định, hay bao gồm cả tranh chấp về những quyền và nghĩa vụ mà người SDĐ có được khi tham gia vào các quan hệ pháp luật khác. Bên cạnh đó, chủ thể tranh chấp vốn được gọi là “hai hay nhiều bên” cũng không được xác định rõ ràng là chỉ bao gồm người SDĐ hay là tất cả các chủ thể có liên quan đến quyền và nghĩa vụ của người SDĐ trong quan hệ tranh chấp đất đai. Quan điểm này cho rằng: Việc mở rộng khái niệm tranh chấp đất đai trong điều kiện của nước ta hiện nay là chưa hợp lý, vì xuất phát từ chế độ sở hữu toàn dân đối với đất đai mà Nhà nước là đại diện chủ sở hữu thì người SDĐ chỉ có quyền sử dụng đối với đất đai. Vì vậy, đối tượng của tranh chấp đất đai chỉ có thể là QSDĐ.
Mặt khác, các thuật ngữ tranh chấp đất đai và tranh chấp QSDĐ được sử dụng như những thuật ngữ thay thế nhau kể từ khi ban hành Luật đất đai năm 1987 đến nay mà không có sự phân biệt. Hơn nữa, các tranh chấp có liên quan đến QSDĐ của người SDĐ cũng đã từng được quy định cụ thể trong một số văn bản hướng dẫn về 7 thẩm quyền giải quyết các tranh chấp liên quan đến đất đai với tên gọi là tranh chấp liên quan đến QSDĐ chứ không phải tranh chấp đất đai một cách chung chung. Họ cho rằng, giải thích tranh chấp đất đai theo khoản 24 Điều 3 Luật đất đai năm 2013 có nội hàm rất rộng nên gây nhiều cách hiểu không chính xác. Do đó, theo quan điểm nay tranh chấp đất đai cần được hiểu là tranh chấp quyền sử dụng đối với diện tích đất cụ thể giữa các chủ thể trong hoạt động quản lý, SDĐ.
Còn các dạng tranh chấp khác, đều được hiểu là tranh chấp liên quan đến đất đai và được giải quyết bởi TAND theo thủ tục tố tụng dân sự. Quan điểm thứ hai cho rằng, tranh chấp đất đai bao gồm cả tranh chấp QSDĐ và các tranh chấp liên quan đến QSDĐ. Bởi lẽ, trước khi Luật đất đai năm 2003 được ban hành và có hiệu lực thi hành thì khái niệm tranh chấp đất đai hầu như chưa được đề cập một cách chính thống và giải thích cụ thể. Mặc dù vậy, tranh chấp đất đai trong xã hội được pháp luật ghi nhận và quy định việc giải quyết.
Luật đất đai năm 2003 đã giải thích cụ thể khái niệm tranh chấp đất đai. Khoản 24 Điều 3 Luật đất đai năm 2013 giải thích:“Tranh chấp đất đai là tranh chấp về quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai”. Vậy, đối tượng tranh chấp là quyền và nghĩa vụ của người SDĐ. Nghĩa là bao gồm cả tranh chấp QSDĐ và các tranh chấp liên quan đến QSDĐ.
Mặt khác, xem xét ở góc độ thực tiễn xét xử, hệ thống Tòa án ở nước ta vẫn thống kê các tranh chấp liên quan đến QSDĐ vào mục tranh chấp đất đai nói chung. Bên cạnh đó, Thông tư liên tịch số: 01/2002/TTLT-TANDTC- VKSNDTC-CBC ngày 03/01/2002 của TANDTC, Tổng cục địa chính, Viện kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn về thẩm quyền của Toà án trong việc giải quyết các tranh chấp liên quan đến QSDĐ sử dụng thuật ngữ khác là “các tranh chấp liên quan đến quyền sử dụng đất” thuộc thẩm quyền của Toà án. Theo đó các tranh chấp liên quan đến QSDĐ thuộc thẩm quyền của Toà án bao gồm: i) Tranh chấp về việc ai là người có QSDĐ: ii) Tranh chấp hợp đồng chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại QSDĐ và thế chấp, góp vốn bằng QSDĐ; 8 iii) Thừa kế QSDĐ; iv) Tranh chấp về tài sản gắn liền với việc SDĐ. Vậy, thuật ngữ “các tranh chấp liên quan đến quyền sử dụng đất” là một thuật ngữ có nội hàm rất rộng, bao gồm cả tranh chấp về QSDĐ và tài sản gắn liền với đất.
Theo suy luận logic thì tranh chấp về QSDĐ sẽ bao gồm ba loại: tranh chấp về việc ai là người có QSDĐ (thực chất là tranh chấp QSDĐ hay cụ thể hơn là kiện đòi đất đang bị người khác chiếm giữ, tranh chấp mốc giới); tranh chấp hợp đồng chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại QSDĐ và thế chấp, góp vốn bằng QSDĐ; tranh chấp thừa kế QSDĐ. Không thể phủ nhận rằng, ở mỗi quan điểm đều được lập luận dựa trên những căn cứ nhất định. Song, việc hiểu và vận dụng tranh chấp đất đai “bao gồm tranh chấp QSDĐ và tranh chấp liên quan đến QSDĐ” là hợp lý cả về vấn đề logic ngôn ngữ và thực tiễn áp dụng pháp luật trong giai đoạn hiện nay. Qua sự phân tích định nghĩa về tranh chấp đất đai và ranh giới quyền sử dụng đất, tác giả đưa ra khái niệm về tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất như sau: “Tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất là những mẫu thuẫn, xung đột về lợi ích, quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất với phần ranh giới giữa các bất động sản liền kề nhau”.
Đặc điểm về tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất Vì tranh chấp ranh giới quyền sử dụng thuộc một bộ phận của tranh chấp đất đai nói chung nên sẽ mang đặc điểm lớn của tranh chấp đất đai: Thứ nhất, đặc điểm về chủ thể. Theo Điều 4 Luật đất đại 2013 quy định “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất theo quy định của Luật này”. Bản chất của đất đai thuộc sở hữu toàn dân và nhà nước là đại diện chủ sở hữu nên tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất ở nước ta chỉ là tranh chấp diễn ra giữa người sử dụng đất với nhau hoặc giữa người sử dụng đất với tổ chức, hộ gia đình, cá nhân khác… chứ không có tranh chấp về quyền sở hữu đất đai.
Từ đó pháp luật đất đai quy định Nhà nước không thừa nhận việc đòi lại đất đã được điều chỉnh cho người khác khi thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Chính 9 phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Thứ hai, ở nước ta không có tranh chấp về quyền sở hữu đất đai mà chỉ tồn tại tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa hai hay nhiều bên trong quá trình SDĐ. Do pháp luật nước ta chỉ thừa nhận một chế độ sở hữu đất đai - Chế độ đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu. Thứ ba, về cơ quan giải quyết.