Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP DÂN SỰ VỀ QUYỀN TÁC GIẢ 1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUYỀN TÁC GIẢ Trong những năm gần đây, thuật ngữ "quyền tác giả" (author’s right) hay thuật ngữ "bản quyền" (copy right) xuất hiện ngày càng nhiều trên các phương tiện thông tin đại chúng và ngày càng quen thuộc với công chúng và xã hội. Mặc dù "quyền tác giả" và "bản quyền" đều là khái niệm để chỉ các quyền của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả nhưng thuật ngữ "quyền tác giả" được sử dụng phổ biến ở các nước theo hệ thống pháp luật châu Âu lục địa (Civil Law) còn thuật ngữ "bản quyền" lại được sử dụng phổ biến ở các nước theo hệ thống pháp luật Anh - Mỹ (Common Law). Việc sử dụng thuật ngữ "quyền tác giả" hay thuật ngữ "bản quyền" là do có sự khác nhau cơ bản về cơ sở hình thành, gắn liền với sự khác nhau giữa hai hệ thống pháp luật Civil Law và Common Law về việc giải quyết mối quan hệ giữa ba nhân vật: tác giả - người truyền bá - công chúng.
Các nước theo hệ thống pháp luật châu Âu lục địa sử dụng thuật ngữ "quyền tác giả" xuất phát từ quan điểm gắn chặt mối quan hệ giữa tác giả với tác phẩm, chú trọng đến việc bảo hộ quyền của người trực tiếp sáng tạo ra tác phẩm, đặc biệt là các quyền về tinh thần (quyền nhân thân). Các nước theo hệ thống pháp luật Anh - Mỹ sử dụng thuật ngữ "bản quyền" xuất phát từ khía cạnh thương mại, nhấn mạnh đến quyền sao chép, nhân bản tác phẩm, tức là chú trọng đến giá trị kinh tế của tác phẩm chứ không phải nhân thân của tác giả, do đó quyền nhân thân của tác giả không mấy được coi trọng trong pháp luật về quyền tác giả của các nước theo hệ thống pháp luật này. Là một nước theo hệ thống pháp luật châu Âu nên "quyền tác giả" là thuật ngữ chính thức được sử dụng trong các văn bản pháp luật của Việt Nam. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Khái niệm quyền tác giả: Thuật ngữ "tác giả" có nguồn gốc Hán - Việt, trong đó "tác" có nghĩa là "làm", cũng có nghĩa là "sáng tác tác phẩm"; "giả" có nghĩa là "kẻ, người", cho nên "tác giả" có nghĩa là "người làm ra một tác phẩm, người tạo nên một tác phẩm".
Tác giả được hiểu là người sử dụng thời gian, tài chính, cơ sở vật chất kỹ thuật để trực tiếp sáng tạo tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học hoặc tác phẩm phái sinh. Theo quy định tại Điều 745 của BLDS năm 1995, "tác giả" là người trực tiếp sáng tạo toàn bộ hoặc một phần tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học. Người dịch tác phẩm từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác là tác giả của tác phẩm dịch đó; người phóng tác từ tác phẩm đã có, người cải biên, chuyển thể tác phẩm từ loại hình này sang loại hình khác là tác giả của tác phẩm phóng tác, cải biên, chuyển thể đó; người biên soạn, chú giải, tuyển chọn tác phẩm của người khác thành tác phẩm có tính sáng tạo là tác giả của tác phẩm biên soạn, chú giải, tuyển chọn đó cũng được công nhận là tác giả. Có thể nói, khái niệm tác giả theo quy định của BLDS năm 1995 chưa có tính khái quát, mới mang tính thống kê nhưng không đầy đủ.
Khái niệm tác giả đã được hoàn thiện hơn tại Điều 736 BLDS năm 2005; theo đó, người sáng tạo tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học (sau đây gọi chung là tác phẩm) là tác giả của tác phẩm đó; trong trường hợp có hai người hoặc nhiều người cùng sáng tạo ra tác phẩm thì những người đó là các đồng tác giả; người sáng tạo ra tác phẩm phái sinh từ tác phẩm của người khác, bao gồm tác phẩm được dịch từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác, tác phẩm phóng tác, cải biên, chuyển thể, biên soạn, chú giải, tuyển chọn là tác giả của tác phẩm phái sinh đó. Việc đưa khái niệm tác giả vào BLDS năm 2005 là hoàn toàn cần thiết và phù hợp với thông lệ quốc tế. Quyền tác giả là một trong những quyền con người được quy định trong Tuyên ngôn chung về Nhân quyền và tại các thỏa ước quốc tế của Liên 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Hợp Quốc, đồng thời quyền tác giả cũng là một quyền pháp lý rất quan trọng nhằm bảo hộ các tác phẩm văn học, nghệ thuật [42]. Tương tự như thuật ngữ "quyền sở hữu trí tuệ", không có một định nghĩa cụ thể về "quyền tác giả" trong các điều ước quốc tế.
Theo quy định của pháp luật Việt Nam, tại khoản 2 Điều 4 Luật SHTT thì: "quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu" [38]. Tính đặc thù của quyền tác giả: Quyền tác giả khác với quyền sở hữu tài sản thông thường về đối tượng sở hữu. Nếu như đối tượng của quyền sở hữu thông thường là các tài sản vật chất hữu hình có thể cầm, nắm, chạm vào nó thì đối tượng của quyền tác giả là là tài sản vô hình được hình thành từ lao động trí óc của con người. Từ khác biệt về thuộc tính đối tượng giữa quyền tác giả với quyền sở hữu tài sản thông thường dẫn đến sự khác biệt về nội dung chiếm giữ đối tượng của quyền tác giả và quyền sở hữu tài sản thông thường.
Nếu như đối với quyền sở hữu tài sản thông thường thì quyền chiếm hữu được xem là tiền đề để thực hiện quyền sử dụng và quyền định đoạt thì đối với quyền tác giả, do đặc tính vô hình của quyền tác giả, vấn đề chiếm hữu đối tượng không được đặt ra. Bởi lẽ, khi đầu tư công sức, thời gian, tiền bạc để nghiên cứu, sáng tạo ra một tác phẩm, người sáng tạo luôn mong muốn sản phẩm của mình phải được đưa vào khai thác, sử dụng mang lại lợi ích cho xã hội và cho chính tác giả. Như vậy, yếu tố quan trọng nhất trong quyền tác giả không phải là quyền chiếm hữu mà là việc xác định ai là người có quyền khai thác, sử dụng tác phẩm bởi quyền khai thác, sử dụng tác phẩm trong đa số các trường hợp luôn gắn với mục đích thương mại của việc sử dụng tác phẩm. Quyền tác giả khác cũng khác với quyền sở hữu tài sản thông thường về thời hạn bảo hộ: 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Một tài sản hữu hình sẽ thuộc về người chủ sở hữu của nó mãi mãi nếu người đó không làm mất hay chuyển quyền sở hữu cho người khác nhưng cũng như các quyền SHTT, quyền tác giả bị giới hạn về thời gian, chỉ được bảo hộ trong một thời gian nhất định, được quy định cụ thể trong luật.
Thời hạn này được tính từ thời điểm tác phẩm đó được thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định và được tiếp tục cho đến một thời điểm nào đó sau cái chết của tác giả (50 năm). Quyền nhân thân của tác giả (trừ quyền công bố tác phẩm hoặc cho người khác công bố tác phẩm - thực chất là quyền tài sản) được bảo hộ vô thời hạn (khoản 1 Điều 27 Luật SHTT). Pháp luật cũng quy định mọi trường hợp chuyển giao các quyền nhân thân và các quyền tài sản đều không được vượt quá thời hạn bảo hộ mà pháp luật đã quy định. Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ quy định thời hạn bảo hộ (nếu không được tính trên cơ sở đời người) không ít hơn 75 năm kể từ khi tác phẩm được công bố hợp pháp hoặc nếu tác phẩm không được công bố hợp pháp trong vòng 25 năm kể từ khi tác phẩm được tạo ra, thì thời hạn đó không ít hơn 100 năm kể từ khi tác phẩm được tạo ra (Điều 4.4 Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ).
Thời hạn này dài hơn các thời hạn được quy định trong Công ước Berne về bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật (sau đây gọi tắt là Công ước Berne) mà Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền SHTT (sau đây gọi tắt là Hiệp định TRIPs) có dẫn chiếu và các quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam về bảo hộ quyền tác giả. Cùng nằm trong nhóm quyền SHTT nhưng quyền tác giả khác với quyền sở hữu công nghiệp về điều kiện bảo hộ: việc bảo hộ quyền tác giả không phụ thuộc vào việc tác phẩm được tạo ra đã được đăng ký hay chưa. Theo luật pháp Hoa Kỳ, "các tác phẩm gốc của tác giả" có thể được bảo hộ bản quyền nếu chúng được định hình trên một phương tiện biểu hiện hữu hình và chỉ có các tác phẩm nguyên gốc mới được bảo hộ bản quyền. Khái niệm "nguyên gốc" có nghĩa là tác giả đã có sự đóng góp công sức thực sự vào việc tạo ra 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tác phẩm hơn là sự thay đổi một cách đơn giản hay còn gọi là một sự sao chép đơn giản.
Điều này có nghĩa là không ai có thể được sao chép nguyên văn một truyện ngắn và phân phối chúng như là tác phẩm của bản thân tác giả nhưng một người viết truyện được tự do lấy cốt truyện từ một truyện khác. Yêu cầu để xác định bản quyền một tác phẩm nguyên gốc thấp hơn rất nhiều so với yêu cầu của tiêu chuẩn tính mới và tính sáng tạo của patent. Pháp luật về bản quyền tác giả của Úc quy định rằng quyền tác giả chỉ bảo hộ đối với hình thức xác định mà trong đó ý tưởng và thông tin được biểu đạt. Tuy nhiên, họ cũng phân biệt rõ ở đây có hai loại ý tưởng.
Thứ nhất, pháp luật về quyền tác giả không bảo hộ cho những ý tưởng đang nằm trong đầu tác giả, ví dụ khi một nhà thơ có ý tưởng về một ý thơ nhưng ý tưởng này không được thể hiện trên một phương tiện hữu hình nào đó như trên giấy, đọc thành lời thì ý tưởng đó không được bảo hộ. Loại ý tưởng thứ hai là khi ý tưởng đó được thể hiện trên một phương tiện cụ thể nào đó, có nghĩa là biểu đạt ý tưởng với một hình thức hoặc hình dạng cụ thể nào đó thì trong những trường hợp này quyền tác giả tồn tại trong những hình thức biểu đạt đó. Việc kiểm tra tính nguyên gốc của tác phẩm thường có hai khía cạnh. Trước hết tác phẩm phải đúng là của tác giả, điều đó được giải thích bằng việc tác phẩm do chính tác giả tạo ra một cách độc lập, không phải sao chép từ các tác phẩm khác và thứ hai, tác phẩm mới phải có tính sáng tạo.