Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐĂNG KÝ GIAO DỊCH BẢO ĐẢM 1. KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA ĐĂNG KÝ GIAO DỊCH BẢO ĐẢM 1. Khái niệm về đăng ký giao dịch bảo đảm Trong thời gian qua, Nhà nước đã có nhiều biện pháp nhằm đa dạng hoá các kênh và hình thức động viên nguồn lực cho đầu tư phát triển kinh tế- xã hội. Tuy nhiên, để có nguồn vốn bền vững, thì giải pháp cơ bản, lâu dài là phải phát triển và hoàn thiện các công cụ tạo lập vốn thông qua thị trường vốn, với tiêu chí hàng đầu của hoạt động tín dụng là "An toàn - Hiệu quả- Phát triển bền vững- Hội nhập quốc tế" [7].
Do vậy, việc hoàn thiện khung pháp lý về đăng ký giao dịch bảo đảm có ý nghĩa quan trọng trong việc mở rộng tín dụng một cách an toàn, hiệu quả. Trong những năm gần đây, trước những yêu cầu của thực tiễn, pháp luật Việt Nam về đăng ký giao dịch bảo đảm ngày càng được hoàn thiện, tạo tiền đề quan trọng để các tổ chức, cá nhân thuận lợi trong việc tiếp cận với các nguồn tín dụng và an toàn pháp lý trong giao dịch dân sự, kinh tế. Mặc dù, pháp luật Việt Nam về đăng ký giao dịch bảo đảm, đặc biệt là đối với động sản đang ngày càng tiếp cận với pháp luật nhiều nước có hệ thống đăng ký giao dịch bảo đảm phát triển, nhưng đến thời điểm hiện nay, từ giác độ pháp luật thực định và khoa học pháp lý, Việt Nam vẫn chưa có một khái niệm chính thức về đăng ký giao dịch bảo đảm. Vậy đăng ký giao dịch bảo đảm được định nghĩa như thế nào? Theo tôi, trước khi xây dựng khái niệm về đăng ký giao dịch bảo đảm, cần xuất phát từ khái niệm "đăng ký".
Có rất nhiều định nghĩa về "đăng ký" trong các công trình nghiên cứu và sách tham khảo, ví dụ như: Theo cuốn Từ điển Tiếng Việt, Nhà xuất bản Từ điển Bách khoa, năm 2005 thì "Đăng ký: Ghi vào sổ của cơ quan quản lý" [38, tr. 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Theo cuốn Đại từ điển Tiếng Việt, Nhà xuất bản Văn hoá - Thông tin, năm 1998 thì "Đăng ký: Đứng ra khai báo để được cấp Giấy công nhận về quyền hạn, nghĩa vụ nào đó" [43, tr. Về vấn đề này, Từ điển Tiếng Việt Nhà xuất bản Khoa học xã hội và Trung tâm Từ điển, năm 1994 có định nghĩa: "Đăng ký: Ghi vào Sổ của cơ quan quản lý để chính thức công nhận cho hưởng quyền lợi hay làm nghĩa vụ" [39, tr. Từ điển Giải thích thuật ngữ hành chính Nhà xuất bản Lao động, năm 2002 có nêu: "Đăng ký: Thể thức ghi chép vào sổ sách nhà nước đặt ra như: đăng ký kết hôn, đăng ký kinh doanh, đăng ký chứng khoán.
Những sự kiện được nghi chép vào sổ là không thể chối cãi được" [38, tr. Qua các định nghĩa nêu trên, tôi nhận thấy, dù các tác giả nhìn nhận và định nghĩa khác nhau về đăng ký, song vẫn có thể tổng hợp nội hàm của khái niệm đăng ký bao gồm các đặc điểm chủ yếu sau đây: (i) đăng ký là hành vi ghi vào sổ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; (ii) đăng ký làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của người thực hiện đăng ký và (iii) những thông tin được ghi vào sổ của cơ quan đăng ký có thẩm quyền là chứng cứ khách quan, không thể chối cãi. Từ điển Luật học, Nhà xuất bản Bách khoa và Nhà Xuất bản Tư pháp, năm 2006 tại trang 235 mặc dù không định nghĩa về đăng ký giao dịch bảo đảm nhưng đã định nghĩa về đăng ký việc cầm cố. Đăng ký việc cầm cố là (cơ quan nhà nước có thẩm quyền) công nhận và chứng thực về phương diện pháp lý quan hệ dân sự được bảo đảm bằng tài sản cầm cố.
Đăng ký việc cầm có là thủ tục do pháp luật quy định. Đối với tài sản mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu thì việc dùng tài sản đó cầm cố để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ phải đăng tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền là thủ tục bắt buộc. Khái niệm trên đã đề cập đến những nội dung như: chủ thể của hành vi đăng ký (cơ quan nhà nước có thẩm quyền), nguyên tắc đăng ký (đăng ký 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tự nguyện hoặc đăng ký bắt buộc), thủ tục đăng ký do pháp luật quy định. Song, khái niệm về đăng ký việc cầm cố trong Từ điển Luật học chưa thể hiện được hai nội dung đặc biệt quan trọng, khác biệt với đăng ký các sự kiện pháp lý khác (ví dụ: đăng ký phương tiện giao thông cơ giới, đăng ký kết hôn.), đó là: giá trị pháp lý của việc đăng ký và thời điểm có hiệu lực của việc đăng ký cầm cố, vì khoản 3 Điều 323 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định "trường hợp giao dịch bảo đảm được đăng ký theo quy định của pháp luật thì giao dịch bảo đảm đó có giá trị pháp lý đối với người thứ ba, kể từ thời điểm đăng ký" [35, tr.
Từ định nghĩa về đăng ký và đăng ký việc cầm cố, trên cơ sở nghiên cứu pháp luật Việt Nam hiện hành và tham khảo kinh nghiệm của một số quốc gia, tôi nhận thấy, khái niệm dưới đây thể hiện rõ nét nhất bản chất và đặc điểm của đăng ký giao dịch bảo đảm: Đăng ký giao dịch bảo đảm là thủ tục pháp lý được thực hiện theo quy định của pháp luật về đăng ký giao dịch bảo đảm. Giao dịch bảo đảm đã đăng ký có giá trị pháp lý đối với người thứ ba, kể từ thời điểm đăng ký. Việc đăng ký là điều kiện để giao dịch bảo đảm có hiệu lực chỉ trong trường hợp pháp luật quy định và thông tin về giao dịch bảo đảm được cơ quan đăng ký có thẩm quyền cung cấp là chứng cứ chứng minh quyền, lợi ích hợp pháp của bên nhận bảo đảm đối với tài sản bảo đảm. Đây cũng là chính là khái niệm hiện nhận được sự ủng hộ của nhiều chuyên gia pháp lý.
Tuy nhiên, phân loại đăng ký giao dịch bảo đảm thì có 2 loại là: đăng ký thông báo và đăng ký xác minh [26, tr. Điểm khác biệt căn bản nhất của đăng ký thông báo so với đăng ký xác minh là cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm không kiểm tra tính xác thực của giấy tờ, tài liệu đăng ký và việc đăng ký được thực hiện hoàn toàn trên cơ sở nội dung kê khai của người yêu cầu đăng ký. Hiểu rõ bản chất của đăng ký thông báo và đăng ký xác minh sẽ giúp chúng ta xây dựng được quy phạm pháp luật phù hợp và tương thích để điều chỉnh. 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Đặc điểm của đăng ký giao dịch bảo đảm Để có được khái niệm chính xác, cũng như để hiểu rõ hơn bản chất của đăng ký giao dịch bảo đảm, tôi phân tích một số đặc điểm chủ yếu của đăng ký giao dịch bảo đảm như sau: Thứ nhất: Việc chứng nhận đăng ký giao dịch bảo đảm do đơn vị dịch vụ công thực hiện. Chủ thể có thẩm quyền đăng ký giao dịch bảo đảm chính là các đơn vị dịch vụ công, do nhà nước uỷ quyền thực hiện việc cung cấp dịch vụ cho người dân. Do đó, cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm hoạt động theo nguyên tắc tài chính "lấy thu, bù chi" và đa phần các quốc gia đều "tách biệt" hoạt động đăng ký giao dịch bảo đảm với chức năng quản lý nhà nước về đăng ký giao dịch bảo đảm. Thẩm quyền đăng ký giao dịch bảo đảm được xác định theo loại tài sản bảo đảm, theo địa giới hành chính - lãnh thổ hoặc theo địa vị pháp lý của bên nhận bảo đảm (tổ chức hoặc cá nhân).
Tuỳ thuộc điều kiện kinh tế - chính trị - xã hội, mỗi quốc gia sẽ quyết định, lựa chọn mô hình cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm phân tán hoặc tập trung, cũng như xác định mức độ tập trung khác nhau. Hiện nay, hệ thống cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm của Việt Nam được tổ chức tương ứng 4 loại tài sản, cụ thể là: (i) quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, (ii) tàu bay, (iii) tàu biển và (iv) động sản khác không phải tàu bay, tàu biển. Thứ hai: Đăng ký giao dịch bảo đảm làm phát sinh hiệu lực pháp lý đối với người thứ ba. Giao dịch bảo đảm được đăng ký làm phát sinh hiệu lực pháp lý đối với người thứ ba.
Đây là vấn đề mấu chốt của pháp luật về đăng ký giao dịch bảo đảm. Để có thể khuyến khích sự phát triển của nguồn tín dụng, pháp luật các nước phải quy định cụ thể, chi tiết vấn đề này. Về nguyên tắc, hợp đồng bảo đảm được ký kết hợp pháp làm phát sinh quyền, nghĩa vụ pháp lý giữa hai bên chủ thể (bên nhận bảo đảm và bên bảo đảm) nhưng không đương nhiên phát sinh hiệu lực pháp lý đối với người thứ ba. Do vậy, để công khai hoá 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com quyền lợi bảo đảm, từ đó làm phát sinh hiệu lực pháp lý đối với người thứ ba, thì hợp đồng bảo đảm phải được đăng ký.
Do vậy, một trong những yêu cầu đặt ra đối với pháp luật về giao dịch bảo đảm và đăng ký giao dịch bảo đảm của tất cả các quốc gia là phải xác định rõ "người thứ ba" bao gồm những chủ thể nào? Giá trị pháp lý của giao dịch bảo đảm đối với người thứ ba được hiểu như thế nào? Quy định cụ thể, chi tiết về vấn đề này sẽ giải quyết được triệt để về lợi ích hợp pháp của bên nhận bảo đảm với các chủ thể khác có quyền, lợi ích liên quan đến tài sản bảo đảm. Việc bảo đảm khoản vay bằng tài sản giúp giảm rủi ro và cho doanh nghiệp những điều kiện vay tốt hơn. Tuy nhiên, những lợi ích này có thể bị giảm nếu như các chủ nợ có bảo đảm đã đăng ký không có sự ưu tiên hơn các chủ nợ không có bảo đảm như: cơ quan thuế, người lao động, người mua tài sản và các chủ thể khác. Khi chủ nợ có bảo đảm đã đăng ký nhận được quyền ưu tiên tuyệt đối trong mối quan hệ với người thứ ba, thì họ sẽ cho vay nhiều hơn[31].