Chương I 7 TỔNG QUAN PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH DOANH THƯƠNG MẠI TẠI TÒA ÁN 1.1 Khái niệm về tranh chấp kinh doanh , thương mại Con người, với bản tính tự nhiên là luôn tìm cách tối đa hóa lợi ích cho mình nên đôi khi dẫn đến sự xung đột với lợi ích của người khác hoặc lợi ích của cộng đồng. Do vậy, Tranh chấp tồn tại như một điều tất yếu. Chừng nào con người còn được thúc đẩy bởi lợi ích cá nhân thì chừng đó còn có những xung đột về lợi ích. Xét ở một chừng mực nhất định, theo Triết học, mâu thuẫn còn tạo ra động lực cho sự phát triển.
Và hệ quả của nó là, để mở đường cho sự phát triển, luôn tồn tại các phương thức để giải quyết tranh chấp. Để hiểu được thế nào là tranh chấp kinh doanh , thương mại, thì ta cần hiểu hai khái niệm cơ bản đó là kinh doanh là gì và thương mại là gì? Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi. Còn thương mại là hoạt động nhằm mục đich sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác. Theo quy định tại Khoản 1 Điều 3 Luật Thương mại 2005 quy định “Hoạt động kinh doanh, thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hang hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác”.
Từ các khái niệm trên có thể khái quát tranh chấp trong hoạt động kinh doanh , thương mại như sau: Tranh chấp trong hoạt động kinh doanh , thương mại là những mâu thuẫn, bất đồng giữa các chủ thể phát sinh trong việc thực hiện các hoạt động có lien quan đến lĩnh vực kinh doanh, đầu tư và thương mại. Và có thể định nghĩa một cách ngắn gọn đối với tranh chấp kinh doanh , thương mại như sau: “Tranh chấp kinh doanh ,thương mại là những mâu thuẫn, bất đồng hay xung đột về quyền lợi và nghĩa vụ giữa các chủ thể tham gia các quá trình của hoạt 8 động kinh doanh thương mại”. Trong xu thế hội nhập phát triển, các chủ thể tham gia hoạt động giao thương ngày càng đa dạng, tranh chấp về kinh doanh thương mại cũng trở nên phức tạp. Do đó, việc xác định rõ các quan hệ tranh chấp trong kinh doanh thương mại là yếu tố cực kỳ quan trọng trong việc áp dụng luật.
Để xác định được vụ việc tranh chấp về kinh doanh , thương mại ta cần làm rõ chủ thể của hoạt động kinh doanh , thương mại và bản chất của tranh chấp kinh doanh , thương mại. Cơ sở pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh doanh , thương mại tại Tòa án. Hệ thống pháp luật có vai trò rất quan trọng trong việc tạo ra hành lang pháp lí để công ty, đơn vị hành chính sự nghiệp của nhà nước được tạo lập, vận hành và phát triển, có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến hoạt động của doanh nghiệp thông qua các văn bản pháp luật như bộ luật Dân sự, luật Thương mại, luật Doanh nghiệp, luật Lao động, bộ luật Tố tụng dân sự, luật Trọng tài thương mại và các văn bản hướng dẫn có liên quan. Để nền kinh tế thị trường vận hành hiệu quả, hoạt động kinh doanh , thương mại diễn ra có trật tự, do đó cần thiết phải thiết kế và xây dựng một hệ thống các văn bản pháp luật hoàn chỉnh, đồng bộ, có tính thống nhất cao và một cơ chế hữu hiệu đảm bảo việc thi hành chúng.
Các quy định của luật tổ chức TAND và bộ luật tố tụng dân sự Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) năm 2015, chứa đựng nhiều điểm mới, tiến bộ như bổ sung một số nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; hoàn thiện hơn quy trình tố tụng, quyền đưa ra chứng cứ chứng minh cho yêu cầu, bảo đảm quyền tranh luận tại phiên toà của đương sự được quy định rõ ràng, đảm bảo tính thực tế, qua đó các quyền con người, quyền công dân trong pháp luật tố tụng dân sự tuân thủ đúng với tinh thần của Hiến pháp năm 2013, thể chế chiến lược cải cách tư pháp theo hướng công khai, minh bạch, dân chủ, tháo gở những bất cập vướng mắc trong thực tiễn áp dụng BLTTDS năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011). Quá trình triển khai thi hành BLTTDS năm 2015 thời gian qua, nhìn chung khá thuận lợi. Tuy nhiên, trên thực tế khi áp dụng một số điều luật của Bộ luật này có sự dẫn chiếu đến nội dung của điều luật khác có liên quan do chưa có quy định rõ ràng nên đã phát 9 sinh bất cập, từ đó, việc hiểu và áp dụng không thống nhất, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, cụ thể sau: Thứ nhất: về quy định quyền của đương sự đề nghị Tòa án tạm đình chỉ giải quyết vụ việc Điều 70 BLTTDS năm 2015, quy định đương sự có rất nhiều quyền và nghĩa vụ, mà theo đó, tại khoản 18 của Điều luật này ghi nhận quyền được“Đề nghị Tòa án tạm đình chỉ giải quyết vụ việc theo quy định của Bộ luật này;” Điều 214[1] BLTTDS năm 2015 quy định các căn cứ mà theo đó, Tòa án ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự. Vấn đề đặt ra, với trường hợp quy định tại khoản 18 Điều 70 BLTTDS năm 2015 có thuộc quy định tại điểm h khoản 1 Điều 214 BLTTDS năm 2015 không? Theo quan điểm của người viết, vấn đề này do pháp luật quy định chưa cụ thể, hơn nữa, cơ quan nhà nước có thẩm quyền cũng chưa ban hành văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn nhận thức thống nhất và áp dụng quy định này, nên thực tiễn còn có ý kiến khác nhau là việc bình thường.
Trước đây, Hội đồng Thẩm phán TANDTC đã ban hành nhiều Nghị quyết hướng dẫn thực hiện BLTTDS năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011), trong đó, có Nghị quyết số 05/2012/HĐTP ngày 03/12/2012 hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ hai “Thủ tục giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm” của Bộ luật Tố tụng dân sự đã được sửa đổi, bổ sung theo luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự (viết tắt là Nghị quyết 05/2012/NQ-HĐTP). Mà theo đó, tại Điều 22 của Nghị quyết 05/2012/NQ-HĐTP hướng dẫn thực hiện Điều 189 BLTTDS năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011). Tuy nhiên, trong thực tế hoạt động tố tụng dân sự vẫn có ý kiến khác nhau mà chưa có lời kết. Những căn cứ để Tòa án ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự được quy định tại Điều 189 BLTTDS năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011).
Cụ thể là: “1. Thẩm phán ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự mà không phụ thuộc có hay không có yêu cầu của đương sự khi thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 189 của BLTTDS. “Trường hợp cơ quan, tổ chức đã sáp nhập, chia, tách mà chưa có cơ quan, tổ chức kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của cơ quan, tổ chức đó” là trường hợp đã có quyết định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền về việc sáp nhập, chia, tách cơ quan, tổ chức đó, nhưng cơ quan, tổ chức mới chưa được thành lập hoặc đã được thành lập nhưng chưa có đầy đủ điều kiện để hoạt động theo quy định của pháp luật đối với loại hình cơ quan, tổ chức đó. “Trường hợp cơ quan, tổ chức đã giải thể mà chưa có cơ quan, tổ chức kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của cơ quan, tổ chức đó” là trường hợp chưa xác định được cơ quan, tổ chức, cá nhân kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại các điểm a và b khoản 2, khoản 3 Điều 62 của BLTTDS.
“Đại diện hợp pháp của đương sự” quy định tại khoản 3 Điều 189 của BLTTDS bao gồm đại diện theo pháp luật và đại diện theo uỷ quyền. Người đại diện hợp pháp của đương sự được xác định theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2005, Điều 73 của BLTTDS và hướng dẫn tại Điều 21 Nghị quyết số 03/2012/NQ-HĐTP ngày 03-12-2012 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định trong Phần thứ nhất “Những quy định chung” của Bộ luật tố tụng dân sự đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự. “Cần đợi kết quả giải quyết vụ án khác có liên quan hoặc sự việc được pháp luật quy định là phải do cơ quan, tổ chức khác giải quyết trước mới giải quyết được vụ án” quy định tại khoản 4 Điều 189 của BLTTDS là trường hợp mà kết quả giải quyết vụ án dân sự, hình sự, hành chính đó, hoặc kết quả giải quyết của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền là cơ sở để xác định thẩm quyền của Tòa án, xác định quyền khởi kiện đối với vụ án, xác định địa vị pháp lý, xác định người tham gia tố tụng, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp hoặc là căn cứ khác để Tòa án giải quyết vụ án này một cách toàn diện, chính xác và đúng pháp luật. "Vụ án khác có liên quan” đến vụ án mà Tòa án đang giải quyết là vụ việc dân sự, vụ án hình sự, hành chính.
“Sự việc được pháp luật quy định” phải là sự việc có ảnh hưởng trực tiếp đến việc giải quyết vụ án, và nếu không được cơ quan, tổ chức khác giải quyết trước thì việc giải quyết của Tòa án là vi phạm pháp luật. Ví dụ 1: Trong vụ án tranh chấp về hợp đồng mua bán tài sản giữa nguyên đơn A và bị đơn B. Sau khi thụ lý vụ án mà Tòa án nhân dân huyện X nhận được thông báo của Tòa án nhân dân huyện Y về việc Tòa án này đang thụ lý giải quyết vụ án giữa nguyên đơn C và bị đơn A về tranh chấp quyền sở hữu đối với tài sản đó. Trường hợp này, Tòa án nhân dân huyện X cần ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án tranh chấp về hợp đồng mua bán tài sản giữa A và B để chờ kết quả giải quyết tranh chấp về quyền sở hữu tài sản đó của Tòa án nhân dân huyện Y.