Chương 1 NHŨNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÈ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG VÀ PHÁP LUẬT VÈ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐÒNG TÍN DỤNG TẠI TÒA ÁN 1. Những vấn đề lý luận về tranh chấp họp đồng tín dụng và giải quyết tranh chấp họp đồng tín dụng tại tòa án 1. Khái niệm, đặc điểm hợp đồng tín dụng * Khái niệm họp đồng tín dụng TCTD là loại hình doanh nghiệp đặc biệt trong nền kinh tế. Hoạt động của TCTD là kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với mục đích lợi nhuận.
Trong số hoạt động của TCTD thì hoạt động cho vay là hoạt động cơ bản của các TCTD. Đây là một loại hình hoạt động tín dụng của TCTD, có nhiều đặc thù so với các loại hình cấp tín dụng ngân hàng khác về chủ thể, hình thức, đối tượng, qui trình. Đặc biệt hoạt động cho vay có vai trò rất quan trọng trong việc đảm bảo nhu cầu vốn của các chủ thể trong nền kinh tế, đảm bào sự luân chuyền vốn nhịp nhàng từ những người thừa vốn đến những người cần vốn [20, tr,14J. Theo Khoản 16 Điều 4 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 thì cho vay là hình thức cấp tín dụng theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cà gốc và lãi.
Hình thức pháp lý của quan hệ cho vay giữa TCTD và khách hàng là hợp đồng tín dụng. Đây là cơ sở để giải quyết các tranh chấp phát sinh (nếu có) giữa TCTD và khách hàng vay vốn. Có quan điềm cho rằng, hợp đồng tín dụng là sự thỏa thuận bằng văn bản giữa tố chức tín dụng (bên cho vay) với tổ chức, cá nhân có đủ điều kiện do luật định (bên vay), theo đó tổ chức tín dụng thỏa thuận ứng trước một số 7 tiên cho bên vay sử dụng trong một thời hạn nhât định, với điêu kiện có hoàn trả cả gốc và lãi, dựa trên sự tín nhiệm [30]. Đây là một dạng cụ thể của hợp đồng vay tài sản đã được quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2015.
Hợp đồng ghi nhận thỏa thuận của hai hay nhiều bên làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các bên. Tuy nhiên, chỉ gọi là hợp đồng tín dụng trong trường hợp bên cho vay là các tổ chức tín dụng, trong đó chủ yếu là các ngân hàng [29]. Có thể thấy, hoạt động cho vay của TCTD là loại hình cấp tín dụng của TCTD, đồng thời cũng là một loại cho vay tài sản trong dân sự, vì vậy hợp đồng tín dụng cũng là một loại hợp đồng vay tài sản. Hình thức pháp lí của quan hệ cho vay chính là hợp đồng tín dụng ghi nhận sự thỏa thuận giữa các tồ chức tín dụng với khách hàng có nhu cầu vay vốn tại các tổ chức tín dụng.
Vậy hợp đồng tín dụng được hiểu là sự thỏa thuận bằng văn bản giữa TCTD (bên cho vay) và cá nhân, tô chức (bền vay), theo đó, bên cho vay chuyển nhượng quyền sớ hữu khoản tiền nhất định cho bên vay theo thời hạn và mục đích đã được xác định, dựa trên nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi. Hợp đồng tín dụng là văn bản phản ánh sự thỏa thuận giữa TCTD và khách hàng vay trong việc xác lập quan hệ cho vay, xác lập các quyền và nghĩa vụ pháp lý cụ thể của các bên này trong việc vay và hoàn trả khoản vay. Hợp đồng này phải được giao kết dựa trên nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, cùng có lợi và trực tiếp chịu trách nhiệm về tài sản. Mục đích và nội dung của hợp đồng không được trái pháp luật.
Hợp đồng này có thế có hoặc không có điều khoản quy định về biện pháp bảo đảm cho khoản vay. Điều này tùy thuộc vào sự thỏa thuận của bên cho vay và bên vay, trừ trường họp pháp luật có quy định khác. Trong trường họp TCTD và khách hàng thỏa thuận về khoản vay có bảo đàm thì hợp đồng bảo đảm thường được xác lập riêng với hợp đồng tín dụng. 8 * Đặc điêm họp đông tín dụng Hợp đồng tín dụng có các đặc điểm sau đây: Thứ nhất, hình thức của họp đồng tín dụng phải được thể hiện bằng văn bản, có thể là văn bẳn viết hoặc văn bản điện tử dưới dạng thông điệp dữ liệu.
Theo Luật Giao dịch điện tử năm 2005 (Điều 11, 12, 13, 14) thì dù hợp đồng tín dụng được ký kết dưới hình thức nào như trên đã nêu, đều có giá trị pháp lý như nhau. Điều này là rất càn thiết để bảo vệ quyền lợi của các bên khi tranh chấp xảy ra. Thứ hai, bên cho vay trong hợp đồng tín dụng bắt buộc phải là TCTD, được thành lập và hoạt động hợp pháp trên cơ sở giấy phép thành lập và hoạt động ngân hàng do Ngân hàng Trung ương cấp. Các TCTD có thể cho vay hợp vốn trong trường hợp cần thiết, khi nhu cầu vay vốn của khách hàng lớn và vượt quá mức cho vay được pháp luật cho phép của TCTD đối với một khách hàng (ví dụ, khi tống dư nợ cho vay đối với một khách hàng vượt quá 15% vốn tự có của TCTD - Khoản 1 Điều 128 Luật các TCTD năm 2010, được sứa đồi, bổ sung năm 2017).
Nguồn vốn cho vay của TCTD chủ yếu là nguồn vốn huy động, trong đó nguồn vốn từ tiền gửi của người gửi tiền chiếm tỷ lệ lớn. Bên vay vổn có the là cá nhân, pháp nhân đáp ứng nhu cầu kinh doanh hoặc tiêu dùng. Thứ ba, hợp đồng tín dụng là một loại hợp đồng vay tài sàn, gắn với việc chuyền nhượng quyền sở hữu số tiền vay từ TCTD sang khách hàng vay. Tuy nhiên, hợp đồng này khác với họp đồng vay tài sản ở đối tượng cho vay, bên cho vay, bên vay vốn, nguồn vốn cho vay và hình thức của họp đồng tín dụng.
Đối tượng duy nhất của hợp đồng tín dụng là tiền tệ (có thể là đồng Việt Nam hoặc ngoại tệ), trong khi đối tượng của hợp đồng vay tài sản có thể là tiền hoặc vật. về nguyên tắc, đối tượng của hợp đồng tín dụng bao giờ cũng là một số tiền xác định, được các bên thỏa thuận và ghi trong hợp đồng. 9 Thứ tư, hợp đông tín dụng là hợp đông luôn có thời hạn và vì mục tiêu lợi nhuận. Thời hạn này có thể là ngắn hạn (đến 1 năm), trung hạn (từ 1 đến 5 năm), dài hạn (từ 5 năm trở lên) nhưng không quá thời hạn hoạt động hợp pháp còn lại của pháp nhân.
Tính chất sinh lời của hợp đồng tín dụng được thể hiện thông qua tỷ suất chênh lệch giữa lãi suất cho vay và lãi suất huy động vốn của tổ chức tín dụng. Hoạt động cho vay cùa TCTD cũng như hoạt động kinh doanh ngân hàng nói chung luôn vì mục tiêu lợi nhuận. Đây chính là động lực để các tổ chức tín dụng duy trì và phát triển hoạt động kinh doanh. Thứ năm, hợp đồng tín dụng là hợp đồng có tính rủi ro cao.
Tính rủi ro này xuất phát từ những đặc thù của đối tượng hợp đồng này, đặc thù của nguồn vốn cho vay của TCTD. Vì vậy, các tổ chức tín dụng luôn phải tuân thũ và thực hiện các biện pháp bảo đảm an toàn trong cho vay, hạn chế tối đa rủi ro và nợ xấu xảy ra. Thứ sáu, hợp đồng tín dụng phải tuân thủ chặt chẽ các yêu cầu về nội dung như mục đích vay, lãi suất vay, giới hạn vay vốn, thời hạn vay, bảo đảm thực hiện hợp đồng. Tồ chức tín dụng không được cho vay vốn nhàm mục đích thực hiện các hành vi bị cấm theo quy định của pháp luật và không được cho vay đối với các trường hợp bị cấm cho vay.
Ví dụ, ngân hàng không được cho vay Thành viên Hội đồng quản trị; thành viên Hội đồng thành viên, thành viên Ban kiểm soát, Tổng giám đốc (Giám đốc), Phó Tổng giám đốc (Phó giám đốc) và các chức danh tương đương của tố chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Thứ bảy, hợp đồng tín dụng có nhiều loại. Căn cứ vào các tiêu chí khác nhau thì hợp đồng này có thể được phân loại như sau: Căn cứ vào thời hạn sử dụng vôn, hợp đông tín dụng được chia thành 02 loại là hợp đồng tín dụng ngắn hạn và hợp đồng tín dụng trung, dài hạn. - Hợp đồng tín dụng ngắn hạn: là hình thức cho vay của các tổ chức tín 10 dụng đôi với khách hàng với thời hạn sử dụng vôn vay do các bên thỏa thuận là đến một năm.
Hình thức này chủ yếu đáp ứng nhu cầu về vốn lưu động của khách hàng trong hoạt động kinh doanh hoặc thỏa mãn nhu cầu về tiêu dùng của khách hàng trong một thời hạn ngắn. - Hợp đồng tín dụng trung và dài hạn: hình thức này khác cho vay ngắn hạn là với thời gian thỏa thuận là từ trên một năm trở lên. Người đi vay sử dụng hình thức này để thỏa mãn nhu cầu mua sắm tài sản cố định trong kinh doanh, thóa mãn nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng như mua sắm nhà ở, phương tiện đi lại. căn cứ vào việc cho vay có bảo đảm hay không có bảo đảm, hợp đồng tín dụng được chia thành 02 loại: - Hợp đồng tín dụng có đảm bảo: là hình thức cho vay trong đó nghĩa vụ trả nợ tiền vay được bảo đảm bằng tài sản của bên vay hoặc của người thứ ba.
Việc cho vay này phải được bảo đảm dưới hình thức ký kết cả hai loại hợp đồng, bao gồm hợp đồng tín dụng và hợp đồng bảo đảm tiền vay (hợp đồng cầm cố, hợp đồng thế chấp, hợp đồng bảo lãnh). Pháp luật cũng cho các bên có thề thỏa thuận lập một hợp đồng nên trong trường hợp này các thỏa thuận về bảo đảm tiền vay được xem là một bộ phận hợp thành của hợp đồng có bảo đăm bằng tài sản. - Hợp đồng tín dụng không có đảm bảo: là hình thức cho vay trong đó nghĩa vụ hoàn trả tiền vay không được bảo đảm bằng các tài sản của khách hàng vay hoặc của người thứ ba. Trong trường hợp tổ chức tín dụng cho vay có bảo đảm bằng tín chấp thì vẫn phải xác lập một văn bản cam kết bảo lãnh bằng uy tín của mình và gửi cho tổ chức tín dụng để khách hàng vay có thể được tổ chức tín dụng chấp nhận cho vay.