CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VÈ THUẬN TÌNH LY HÔN 1. Khái quát chung về thuận tình ly hôn 1. Khái niệm ly hôn Khi xã hội ngày càng phát triển thì kéo theo đó là những hệ lụy với những mối quan hệ vô cùng phức tạp, điều đó cũng ảnh hưởng không nhỏ đến cuộc sống của mỗi gia đình, do không hài hòa được cuộc sống vợ chồng, nhiều cặp vợ chồng đã chọn giải pháp ly hôn để giải quyết mâu thuẫn [29]. Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin thể hiện quyền tự do kết hôn của nam nữ nhằm xác lập quan hệ vợ chồng và quyền tự do ly hôn của vợ chồng nhằm chấm dứt quan hệ vợ chồng và quyền tự do ly hôn theo đúng bản chất của nó - đó là hôn nhân "đã chết", sự tồn tại của nó chỉ là bề ngoài và lừa dối [1, tr.
Theo từ điển luật học của Viện khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp, ly hôn được hiểu là: “Chấm dứt quan hệ vợ chồng do Tòa án nhân dân công nhận hoặc quyết định theo yêu cầu của vợ hoặc chồng hoặc cả hai vợ chồng” [20, tr. 460], Khái niệm này được sử dụng nhiều trong các nghiên cứu, giải thích cho các đương sự liên quan trong thực tiễn giải quyết vụ việc ly hôn và ly hôn được phán ánh rõ nét, đó là việc “chấm dứt quan hệ vợ chồng”, nghĩa là giữa hai bên vợ chồng không còn tồn tại quan hệ hôn nhân, mọi quyền và nghĩa vụ của hai bên sẽ được pháp luật giải quyết thỏa đáng, đảm bảo quyền lợi cho các bên. Quan điểm khác cho rằng: “Thực ra tự do ly hôn tuyệt không có nghĩa là làm “tan rã” những mối liên hệ gia đình mà ngược lại, nỏ cúng cố những mối liên hệ đó trên những cơ sở dân chủ, những cơ sở duy nhất có thể có và vững chắc trong một xã hội văn minh” [19, tr. 355], Theo quan điểm của chủ 8 nghĩa Mác - Lênin, ly hôn là hiện tượng xã hội mang tính giai câp sâu săc.
Trong từng giai đoạn phát triển của lịch sử, ở mồi chế độ xã hội khác nhau, giai cấp thống trị đều thông qua Nhà nước, bằng pháp luật (hay tục lệ) quy định chế độ hôn nhân phù hợp với ý chí của Nhà nước. Tức là Nhà nước bằng pháp luật quy định những điều kiện nào xác lập quan hệ vợ chồng, đồng thời xác lập trong những điều kiện căn cứ nhất định mới được phép xóa bở (chấm dứt) quan hệ hôn nhân. Pháp luật về ly hôn của mồi nước trên thế giới là khác nhau. Pháp luật của Nhà nước xã hội chủ nghĩa công nhận quyền tự do ly hôn chính đáng của vợ chồng, không cấm hoặc đặt ra những những điều kiện nhằm hạn chế quyền tự do ly hôn.
Pháp luật của nhà nước phong kiến, nhà nước tư sản quy định có thể cấm ly hôn, không quy định căn cứ ly hôn mà chỉ công nhận quyền vợ chồng được sống tách biệt nhau bằng chế định ly thân; bằng hạn chế quyền ly hôn theo thời gian xác lập quan hệ hôn nhân; theo độ tuồi của vợ chồng; và thường quy định xét xử ly hôn dựa trên co sở lồi của vợ, chồng hay của cả hai vợ chồng [14, tr. 11], Một số nước Châu Âu mới từ bở quan niệm cấm ly hôn cách đây không lâu: Ở Ý từ năm 1975, ở Tây Ban Nha từ năm 1982. Ở các nước này theo đạo Thiên Chúa, với quan niệm sự gắn bó giữa vợ chồng là do Thiên Chúa thiết lập. Bởi đó, “Sự gì Thiên Chúa đã kết hợp, loài người không được phân ly” [40], vì phá đổ sự kết họp này chính là phá đổ công trình của Thiên Chúa, là bôi bác hình ảnh của Thiên Chúa đã có trong cuộc sống hôn nhân.
Xã hội phong kiến ở Việt Nam trải dài hàng ngàn năm. Trong các quan hệ xã hội, đặc biệt đối với các quan hệ hôn nhân và gia đình, tư tưởng nho giáo thống trị với những lễ giáo được thể chế trở thành pháp luật. Theo đó, bên cạnh những phong tục, tập quán, những quy định của pháp luật mang tính truyền thống tốt đẹp của dân tộc mà ngày nay vần được gìn giữ và phát huy (sự yêu thương, cưu mang đùm bọc lẫn nhau giữa những người thân thuộc 9 trong gia đình; tình nghĩa thủy chung của vợ chông; nghĩa vụ kính trọng, phụng dưỡng của con, cháu đối với cha mẹ, ông bà.); thì những tập tục, những quy định thể hiện sự phân biệt đối xử giữa nam và nữ, giữa vợ và chồng, giữa các con trong gia đình. cũng được duy trì như bản chất của xã hội phong kiến “trọng nam, khinh nữ”.
Pháp luật bảo đảm thực hiện quyền yêu cầu ly hôn và căn cứ ly hôn thường chỉ thuộc về người chồng. Bộ luật Hồng Đức (Quốc triều hình luật thời Nhà Lê) và Bộ luật Gia Long (thời nhà Nguyễn) là hai đạo luật của xã hội phong kiến ở Việt Nam (được khảo cứu còn nguyên vẹn cho đến ngày nay), khi quy định về căn cứ ly hôn đã dựa trên cơ sở lỗi của vợ, chồng; đặc biệt là “tội”, “lồi” của người vợ. Theo quy định về “thất xuất” của Bộ luật Hồng Đức, người chồng buộc phải bỏ (ly hôn) vợ khi người vợ bị vô từ (không có con), đa ngôn (lắm lời), ghen tuông, gian dâm với kẻ khác (ngoại tình, không chung thủy), có hành vi trộm cắp, bất kính với cha, mẹ chồng, bị ác tật [22, tr. 147]; trường hợp vợ cả, vợ lẽ phạm vào điều nghĩa tuyệt (thất xuất) mà người chồng giấu diếm, không bỏ (ly hôn) thì bị xử tội biếm, tùy theo việc nặng nhẹ mà xử [21, tr.
Đối với lồi của người chồng, Bộ luật Hồng Đức quy định: Phàm chồng đã bỏ lửng vợ 05 tháng không đi lại (vợ được trình quán sở tại và xã quan làm chứng) thì mất vợ. Neu vợ đã có con, thì cho hạn một năm. Vì việc quan phải đi xa thi không theo luật này. “Neu đã bở vợ mà lại ngăn cấm người khác lấy vợ cũ thì phái tội biếm” [21, tr.
146], Quy định về nội dung căn cứ ly hôn của Bộ luật Hồng Đức phản ánh xã hội và quan điểm lập pháp của nhà nước phong kiến ở Việt Nam thời kỳ này: Phân biệt đối xử giữa vợ và chồng sâu sắc; thường chỉ có người chồng mới thực hiện được quyền ly hôn vợ, còn người vợ thường không thực hiện được quyền ly hôn của mình. Nội dung của căn cứ ly hôn thể hiện sự bất binh đẳng giữa vợ và chồng. Trong khoa học pháp lý nói chung và khoa học Luật Hôn nhân và gia 10 đình nói riêng, việc đưa ra khái niệm đây đủ vê ly hôn có ý nghĩa quan trọng, phản ánh quan điểm chung nhất của nhà nước ta về ly hôn, tạo cơ sở lý luận cho việc xác định bản chất pháp lý của ly hôn, xác định nội dung, phạm vi điều chỉnh của các quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình về ly hôn và các vấn đề phát sinh khác. Điều 8 Khoản 8 Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000 quy định: “Ly hôn là chấm dứt quan hệ hôn nhân do Tòa án công nhận hoặc quyết định theo yêu cầu của vợ hoặc của chồng hoặc cả hai vợ chồng”.
Điều 3 Khoản 14 Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2014 quy định: “Ly hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án”. Nhìn chung, khái niệm ly hôn của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 có sự thay đổi cơ bản so với khái niệm ly hôn trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000. Tuy nhiên, về bản chất, hai điều luật đó đều phản ánh được ly hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng, quan hệ hôn nhân, đế giúp các bên trong quan hệ hôn nhân được giải thoát khỏi tình trạng hôn nhân đố vỡ. Khái niệm ly hôn trong luật hôn nhân và gia đình năm 2014 mang tính chất chặt chẽ hơn khi đề cập tới nội dung: “Bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án”.
Thông qua đó để phản ánh tính quyền lực cùa nhà nước, cũng như phản ánh bản chất của ly hôn nói riêng là mang tính chất giai cấp [14, tr. Tòa án là cơ quan duy nhất có thẩm quyền xét xử, có vai trò quan trọng trong việc đóng góp phần tuân thủ, chấp hành các quy định của pháp luật. Phán quyết ly hôn của Tòa án thể hiện dưới hình thức: Bản án, quyết định. Neu hai bên vợ chồng thuận tình ly hôn, giải quyết với nhau được tất cà các nội dung sau khi ly hôn thì Tòa án công nhận ly hôn và ra quyết định dưới hình thức quyết định công nhận thuận tình ly hôn.
Neu vợ chồng mâu thuẫn, tranh chấp thì Tòa án xét xử và ra phán quyết ly hôn dưới dạng bản án. Việc giải quyết ly hôn là tất yếu đối với quan hệ hôn nhân đã thực sự tan vỡ, điều đó là hoàn toàn có lợi cho vợ, 11 chông, con cái và các thành viên trong gia đình. Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực của việc ly hôn, thì ly hôn có nhiều điểm tiêu cực: Gây chia rẽ quan hệ gia đình, gây ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống và tương lai của các thành viên, đặc biệt là các con, bên cạnh đó còn ảnh hưởng tới xã hội [14, tr. 14], Từ những phân tích trên, có thể đưa ra khái niệm ly hôn như sau: Ly hôn chính là sự kiện pháp lý làm chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của tòa án.
Khái niệm • và đặc • điểm của việc • thuận • tình ly •/ hôn 1. Khải niệm thuận tình ly hôn Việc giải quyết ly hôn cần dựa trên các điều kiện nhất định phải được tiến hành ở tòa án nhân dân. Pháp luật quy định việc thuận tình ly hôn là công nhận và đảm bảo quyền tự do ly hôn chính đáng cùa hai bên vợ chồng. Ngược lại với thuận tình ly hôn, ly hôn đon phương là trường hợp mà vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn và hòa giải tại Tòa không thành, thì Tòa sẽ giải quyết cho ly hôn căn cứ vào việc: Vợ hoặc chồng có hành vi bạo lực gia đình; vi phạm quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho đời sống chung không thể kéo dài và mục đích của hôn nhân không đạt được [30].