CHƯƠNG 1 CƠ QUAN ĐIỀU TRA, CƠ QUAN ĐƯỢC GIAO NHIỆM VỤ TIẾN HÀNH MỘT SỐ HOẠT ĐỘNG ĐIỀU TRA GIẢI QUYẾT BỒI THƯỜNG TRONG HOẠT ĐỘNG TỐ TỤNG HÌNH SỰ Từ thời điểm LTNBTCNN năm 2009 có hiệu lực cho đến khi được thay thế bằng LTNBTTCNN năm 2017, thuật ngữ “Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước” tại Việt Nam hiện nay đã trở nên rất quen thuộc. Đây không chỉ là thuật ngữ chỉ tên gọi của Luật mà còn là tên gọi của một chế định pháp luật nói chung điều chỉnh một loại quan hệ pháp luật dân sự đặc thù về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Khi một cá nhân, tổ chức chịu sự tác động bởi một sai phạm từ phía người thi hành công vụ trong quá trình thực hiện nhiệm vụ do Nhà nước giao dẫn đến cá nhân, tổ chức đó bị tổn thất về vật chất hoặc tổn thất về tinh thần thì khi ấy sẽ phát sinh một hậu quả pháp lý đó là trách nhiệm của Nhà nước trước những tổn thất ấy, đó là trách nhiệm bồi thường. Như vậy, bồi thường Nhà nước là trách nhiệm của Nhà nước đối với cá nhân, tổ chức bị thiệt hại do người thi hành công vụ gây ra trong hoạt động quản lý hành chính, tố tụng và thi hành án1.
Mặc dù Nhà nước tham gia vào mối quan hệ bồi thường nhưng với trách nhiệm là bên có nghĩa vụ gây ra thiệt hại với một bên là bị thiệt hại, từ đây từ hình thành quan hệ dân sự bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng và được điều chỉnh bởi LTNBTCNN. Nhà nước luôn là chủ thể duy nhất của quyền lực công, bởi lẽ quyền lực nhà nước là thống nhất được Hiến pháp hiến định nên việc thi hành công vụ của bất kỳ cá nhân, tổ chức nào cũng đều nhân danh Nhà nước, trên cơ sở sự ủy nhiệm của Nhà nước. Do đó, chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường trong quan hệ pháp luật TNBTCNN luôn là Nhà nước. Điều này cũng xuất phát từ bản chất của Nhà nước ta là của dân, do dân và vì dân, thể hiện sự bình đẳng về mặt pháp luật giữa Nhà nước và công dân.
Hơn thế nữa, quyền được bồi thường của cá nhân, tổ chức là một trong những quyền cơ bản của quyền con người, điều này được thể hiện tại Điều 30 Hiến pháp năm 2013: “Mọi người có quyền khiếu nại, tố cáo với cơ quan, tổ 1 Điều 1 LTNBTCNN năm 2017 8 chức, cá nhân có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền phải tiếp nhận, giải quyết khiếu nại, tố cáo. Người bị thiệt hại có quyền được bồi thường về vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự theo quy định của pháp luật”. Cụ thể hoá các quy định của Hiến pháp, LTNBTCNN năm 2017 có nhiều điểm mới tiến bộ, trong đó sửa đổi nội dung thuật ngữ “người thi hành công vụ” rõ ràng, cụ thể hơn; Đồng thời bổ sung mới 04 thuật ngữ: “người bị thiệt hại”, “người yêu cầu bồi thường”, “người giải quyết bồi thường” và “hoàn trả”.
Sửa đổi thuật ngữ “ cơ quan có trách nhiệm bồi thường” ở LTNBTCNN năm 2009 thành “cơ quan giải quyết bồi thường” tại khoản 7 Điều 3 như sau: “Cơ quan giải quyết bồi thường là cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại hoặc Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật về tố tụng”. Có thể thấy rằng, thuật ngữ “cơ quan có trách nhiệm bồi thường” và “cơ quan giải quyết bồi thường” có nội hàm khác nhau. Bởi lẽ, việc xác định cơ quan có trách nhiệm bồi thường như LTNBTCNN năm 2009 còn mang tính định tính, chung chung, chưa cụ thể hoá hết việc xác định cơ quan nào, ở giai đoạn nào có trách nhiệm bồi thường. Còn thuật ngữ “cơ quan giải quyết bồi thường” có ý nghĩa rộng hơn, xác định cơ quan giải quyết bồi thường được cụ thể hoá tập trung tại Chương III (từ Điều 33 đến Điều 40) trong các hoạt động quản lý hành chính, tố tụng hình sự, tố tụng dân sự, tố tụng hành chính, thi hành án hình sự và thi hành án dân sự, đồng thời xác định cơ quan giải quyết bồi thường trong một số trường hợp cụ thể.
Ngoài ra, còn bổ sung cơ quan giải quyết bồi thường là Tòa án trong trường hợp kết hợp giải quyết bồi thường trong quá trình tố tụng hình sự, tố tụng hành chính đối với yêu cầu bồi thường trong hoạt động quản lý hành chính, tố tụng dân sự, tố tụng hành chính, thi hành án hình sự và thi hành án dân sự. Riêng đối với quy định về cơ quan giải quyết bồi thường trong trường hợp Viện kiểm sát quyết định trả hồ sơ vụ án để điều tra bổ sung (trong trường hợp vụ án chưa đến giai đoạn Viện kiểm sát hoàn thành cáo trạng để truy tố) mà sau đó bị can được đình chỉ điều tra hoặc đình chỉ vụ án thì Điều 34 và Điều 35 LTNBTCNN năm 2017 đã quy định để phân rõ trường hợp nào thì thuộc trách nhiệm của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, trường hợp nào thì thuộc trách nhiệm của Viện kiểm sát. 9 Theo quy định của LTNBTCNN thì có 02 nhóm cơ quan có trách nhiệm giải quyết bồi thường cho người bị thiệt hại do người thi hành công vụ gây ra, gồm: cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước và trong hoạt động tố tụng; Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật về tố tụng. Trong đó, cơ quan giải quyết bồi thường trong hoạt động tố tụng hình sự gồm có Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án.
Tất cả các cơ quan này theo chức năng, nhiệm vụ mà pháp luật quy định sẽ tiến hành các trình tự, thủ tục theo luật định để giải quyết vụ án hình sự. Trong quá trình áp dụng các nhiệm vụ, quyền hạn của mình, người tiến hành tố tụng của các cơ quan này có thể có những sai sót, có lỗi gây ra oan sai cho người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, bị can, bị cáo, dẫn đến quyền và lợi ích hợp pháp của các cá nhân này bị xâm phạm nghiêm trọng, từ đây phát sinh quyền yêu cầu bồi thường của Nhà nước trong tố tụng hình sự. Chính vì vậy tại Điều 31 LTNBTCNN đã quy định nguyên tắc về quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại trong hoạt động tố tụng hình sự, như sau: 1. Người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án oan, trái pháp luật có quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự.
Nhà nước có trách nhiệm bồi thường thiệt hại và phục hồi danh dự, quyền lợi cho người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án oan, trái pháp luật do cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng gây ra. Người khác bị thiệt hại do cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng gây ra có quyền được Nhà nước bồi thường thiệt hại. Việc quy định trách nhiệm giải quyết bồi thường đối với các cơ quan tiến hành tố tụng trong hoạt động tố tụng hình sự là cần thiết, bởi đây là lĩnh vực đặc thù, là hoạt động quyết định đến quyền bất khả xâm phạm về tính mạng, thân thể của con người, nên việc Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước quy định chặt chẽ từng loại cơ quan tương ứng với các trường hợp phải giải quyết bồi thường nhằm xây dựng nền tư pháp dân chủ, khách quan, công bằng. Trong việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn Cơ quan điều tra là cơ quan tiến hành tố tụng, có nhiệm vụ áp dụng mọi biện pháp do Bộ luật tố tụng hình sự quy định, tiến hành điều tra tất cả tội phạm xảy ra theo thẩm quyền.
Xuất phát từ trách nhiệm phát hiện, xác minh, điều tra, đề nghị truy tố tội phạm và người phạm tội. Quá trình đó có thể phát sinh vấn đề bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, để nghị truy tố không đúng người, gây oan sai cho người khác nên pháp luật mới đặt ra trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với cơ quan điều tra. Hơn thế nữa, cơ quan điều tra là một cơ quan độc lập có cơ cấu tổ chức riêng biệt với chức năng, nhiệm vụ cụ thể theo quy định. Theo đó, Cơ quan điều tra bao gồm: Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng, Điều tra viên, Cán bộ điều tra của Cơ quan Điều tra., Cơ quan điều tra có đầy đủ tư cách pháp nhân và có thể tự chịu trách nhiệm trước pháp luật về hoạt động của mình.
Ở đây cần phải xác định trách nhiệm bồi thường của “cơ quan điều tra” và trách nhiệm của “cơ quan công an”. Bởi lẽ, nhiều trường hợp trên thực tế có sự nhẫm lẫn trong việc xác định cơ quan điều tra nằm trong cơ quan công an dẫn đến xác định chủ thể có trách nhiệm bồi thường không chính xác. Điều này xuất phát từ việc Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự năm 1989 cũng như năm 2004 quy định hệ thống tổ chức của CQĐT Công an nhân dân bao gồm hệ thống CQĐT thuộc lực lượng cảnh sát nhân dân và an ninh nhân dân nên khi nhắc đến cơ quan điều tra thì có nhiều quan điểm nhầm lẫn xác định là cơ quan công an. Nhưng chỉ có duy nhất “cơ quan điều tra” là cơ quan có trách nhiệm bồi thường trong hoạt động tố tụng hình sự.
Ngoài cơ quan điều tra, thì cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra cũng được LTNBTCNN xác định là cơ quan có trách nhiệm bồi thường trong hoạt động tố tụng hình sự. Hiện nay, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra được quy định tại Điều 35 BLTTHS 2015, gồm: các cơ quan của Bộ đội biên phòng; Hải quan; Kiểm lâm; lực lượng Cảnh sát biển; Kiểm ngư; các cơ quan của Công an nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra; các cơ quan khác trong Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra.