Chương 1: Lý luận về pháp luật bảo vệ người tố cáo ở Việt Nam. Chương 2: Thực trạng pháp luật về bảo vệ người tố cáo ở Việt Nam. Chương 3: Quan điểm và giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật về bảo vệ người tố cáo ở Việt Nam hiện nay. 5 CHƢƠNG 1: LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT BẢO VỆ NGƢỜI TỐ CÁO Ở VIỆT NAM 1.
Quan niệm, đặc điểm của tố cáo, giải quyết tố cáo và bảo vệ ngƣời tố cáo 1. Quan niệm, đặc điểm của tố cáo và giải quyết tố cáo 1. Quan niệm, đặc điểm của tố cáo a, Quan niệm tố cáo: Thuật ngữ về “tố cáo” được sử dụng phổ biến trong thực tế và được giải thích trong nhiều tài liệu, văn bản khác nhau. “Tố cáo” là “báo cho mọi người hoặc cơ quan có thẩm quyền biết người hoặc hành động phạm pháp nào đó” [56, tr.
Từ điển luật học thể hiện “tố cáo” là “báo cho cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của một cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân mà gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức” [55, tr. Do xuất phát từ lĩnh vực pháp luật từ điển luật học phản ánh “tố cáo” gần với bản chất hơn so với các từ điển khác. Tuy nhiên, thuật ngữ “tố cáo” tại các văn bản từ điển nêu trên đều chưa thể hiện được toàn diện và đầy đủ về nội dung và bản chất của “tố cáo”. Khái niệm tố cáo được nhắc đến lần đầu như sau: “Tố cáo là việc công dân theo thủ tục do Luật này quy định, báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích, hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức”[28].
Tương tự như Luật KN, TC năm 1998, Luật Tố cáo năm 2011 cũng giải thích “tố cáo” như vậy. Kế thừa văn bản pháp luật tố cáo trước đây, Luật Tố cáo năm 2018 giải thích: “Tố cáo là việc cá nhân theo thủ tục của Luật này báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất kỳ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân”. Theo đó, thay vì chủ thể tố cáo là “công dân” như trước kia, nay Luật Tố cáo năm 2018 đã thay đổi thành 6 “cá nhân” nhằm mở rộng quyền tố cáo cho các đối tượng khác (như người nước ngoài, người không quốc tịch…). Tố cáo cũng được ghi nhận trong một số văn bản pháp luật khác.
Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 thể hiện tố cáo thể hiện qua khái niệm tố giác tội phạm, là việc cho các cơ quan nhà nước có thẩm quyền biết về hành vi có dấu hiệu tội phạm. Đối tượng của tố cáo là mọi hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ chủ thể nào, không phân biệt tính chất hay mức độ. Pháp luật hình sự quy định hành vi nguy hiểm cho xã hội ở mức độ tội phạm. Điều 3 Luật Tố cáo năm 2018 quy định áp dụng pháp luật tố tụng hình sự trong việc tiếp nhận, giải quyết tố giác và tin báo tội phạm.
Do đó, tố giác và tố cáo gần như giống nhau. Trong khi, tố cáo áp dụng với mọi hành vi trái pháp luật nói chung thì tố giác là tố cáo hành vi có dấu hiệu tội phạm theo pháp luật hình sự. Vì vậy, tố giác tội phạm chính là tố cáo trong tố tụng hình sự. Trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, “tố cáo” là việc báo cho cơ quan có thẩm quyền biết về những hành vi, quyết định trái pháp luật trong hoạt động tố tụng dân sự.
Theo đó, “tố cáo” trong tố tụng dân sự là việc cá nhân cho các chủ thể có thẩm quyền biết về những hành vi, quyết định trái pháp luật của các chủ thể tiến hành tố tụng dân sự. Mặc dù được quy định tại nhiều ngành luật khác nhau, nhưng tóm lại tố cáo có các đặc điểm chung sau: Do cá nhân thực hiện; Đối tượng là các hành vi trái pháp luật; nội dung là các thông tin phản ánh về các hành vi được cho là trái pháp luật; Mục đích là bảo vệ lợi ích Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của các cơ quan, tổ chức, cá nhân. Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận về tố cáo và tiếp cận từ góc độ BVNTC, Luận văn đưa ra định nghĩa như sau về tố cáo: Tố cáo là việc người tố cáo phát hiện và báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi của cơ quan, tổ chức, cá nhân mà họ cho là trái pháp luật, xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác. b, Đặc điểm tố cáo 7 Thứ nhất, chủ thể thực hiện quyền tố cáo là cá nhân.
Đặc điểm này nhằm cá thể hóa trách nhiệm của NTC, nếu cố tình tố cáo sai sự thật thì sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật. Thứ hai, đối tượng tố cáo là hành vi trái luật của bất cứ chủ thể nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức. Điều này cũng phân biệt rõ tố cáo so với khiếu nại, là việc đề nghị chủ thể có thẩm quyền xem xét quyết định, hành vi hành chính của CQHCNN, người có thẩm quyền trong đó hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức khi có căn cứ cho rằng quyền lợi của mình bị xâm phạm bởi những quyết định, hành vi hành chính được cho là trái luật đó. Thứ ba, mục đích của tố cáo là bảo vệ quyền và lợi ích của NTC, lợi ích của Nhà nước, xã hội và của tập thể, cá nhân khác và nhằm trừng trị, loại trừ những hành vi trái pháp luật xâm phạm những lợi ích trên.
Quan niệm, đặc điểm của giải quyết tố cáo a, Quan niệm về GQTC Luật Tố cáo năm 2018 quy định GQTC là quá trình thụ lý, xác minh, kết luận nội dung tố cáo và xử lý kết luận nội dung tố cáo của chủ thể có thẩm quyền. Quan niệm này về tố cáo được quy định khái quát nhưng chưa đầy đủ về nội dung và bản chất của GQTC. Hành trái pháp luật trong thực hiện nhiệm vụ, công vụ và hành vi trái pháp luật về quản lý nhà nước trong các lĩnh vực là các đối tượng của tố cáo theo Luật Tố cáo năm 2018. Đối tượng thực hiện các hành vi trái pháp luật nêu trên là: CB,CC,VC; người khác được giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ; người từng là CB,CC,VC đã thực hiện hành vi trái pháp luật công tác; người từng được giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ nhưng đã thực hiện hành vi trái pháp luật trong thời gian đó; cơ quan, tổ chức.
Với sự đa dạng về đối tượng tố cáo và chủ thể thực hiện hành vi trái pháp luật như vậy, thẩm quyền GQTC đối với mỗi trường hợp cũng có sự khác biệt. Điều 28 Luật Tố cáo năm 2018 quy định trình tự GQTC: Thụ lý tố cáo; xác minh nội dung tố cáo; kết luận nội dung tố cáo; xử lý kết luận nội dung tố cáo. 8 Qua đó, GQTC được hiểu là việc xem xét, xác minh, kết luận về nội dung tố cáo và ra quyết định xử lý theo trình tự và thủ tục do luật định đối với chủ thể bị tố cáo là có hành vi gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể khác. Cần lưu ý, ngoài mục đích và bản chất chung thì hoạt động GQTC tại Việt Nam có sự khác biệt so với một số quốc gia khác trên thế giới, tiêu biểu về hình thức tố cáo.
Theo pháp luật tố cáo, có thể tố cáo bằng đơn hoặc tố cáo trực tiếp tại trụ sở các cơ quan. Trường hợp cá nhân tố cáo trực tiếp tại đơn vị có thẩm quyền, họ được hướng dẫn viết đơn hoặc ký tên hay điểm chỉ vào biên bản ghi nhận nội dung về việc tố cáo. Tóm lại, hình thức tố cáo tại Việt Nam là văn bản. Trong khi đó, tại Singapore, nguồn tin mà cơ quan chống tham nhũng khai thác để điều tra được thu thập có bao gồm tố cáo của nhân dân, chia thành 02 loại là: có danh và nặc danh.
b, Đặc điểm GQTC Từ quan điểm nêu trên, GQTC có những đặc điểm sau: - Thứ nhất, GQTC theo thẩm quyền do luật định. Ví dụ: Luật Tố cáo năm 2011 quy định Chủ tịch UBND các cấp; người đứng đầu cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh;… có thẩm quyền GQTC. Luật Tố cáo năm 2018 cũng quy định tương tự với nguyên tắc được quy định tại điều 12. - Thứ hai, GQTC theo trình tự, thủ tục do luật định.
Các chủ thể có thẩm quyền phải giải quyết theo đúng trình tự thủ tục trong luật định như đã trình bày ở trên. Quan niệm, đặc điểm về bảo vệ ngƣời tố cáo 1. Quan niệm về bảo vệ người tố cáo Theo từ điển Tiếng Việt, “bảo vệ” là “Chống lại mọi sự xâm phạm để giữ cho luôn luôn được nguyên vẹn”. Theo đó, bảo vệ được hiểu là việc thực hiện các biện pháp để một chủ thể nào đó không bị xâm phạm, được bảo đảm an toàn.
NTC là người báo cho các cơ quan có thẩm quyền biết về hành vi trái pháp luật của bất kỳ ai. Trước tiên, họ phải biết về hành vi của một chủ thể nhất định và có căn cứ cho rằng hành vi đó trái pháp luật. Sau đó, họ phải báo cho chủ thể có thẩm quyền để điều tra, kết luận và xử lý theo pháp luật. NTC là bất kỳ ai, có thể là người làm việc cùng đơn vị với chủ thể bị tố cáo hoặc không.