Tổng quan nghiên cứu

Trong giai đoạn 1989 đến 2007, Việt Nam đã xuất khẩu hơn 65 triệu tấn gạo ra thị trường quốc tế, đạt mức bình quân trên 3 triệu tấn mỗi năm và đóng góp từ 14% đến 16% tổng thị lượng gạo thương mại toàn cầu. Thành tích này đưa Việt Nam trở thành quốc gia xuất khẩu gạo lớn thứ hai thế giới, mang về nguồn thu ngoại tệ vượt 1,45 tỷ USD vào năm 2007. Tuy nhiên, hoạt động xuất khẩu lúa gạo nước ta thời kỳ này đối mặt với nhiều hạn chế mang tính cơ cấu: chất lượng sản phẩm chưa đồng đều, tỷ lệ tổn thất sau thu hoạch ở mức 13% đến 16%, giá bán bình quân thường thấp hơn từ 30 đến 40 USD/tấn so với gạo cùng loại của Thái Lan, và phần lớn giao dịch vẫn phụ thuộc vào hợp đồng cấp chính phủ ở phân khúc giá trị gia tăng thấp.

Mục tiêu nghiên cứu trọng tâm của luận văn là phân tích, đánh giá toàn diện thực trạng sản xuất, chế biến và thương mại xuất khẩu gạo của Việt Nam trong giai đoạn 1989 – 2007; đồng thời nhận diện các điểm nghẽn trong chuỗi giá trị và dự báo xu hướng cung cầu toàn cầu đến năm 2017. Trên cơ sở đó, đề tài xây dựng hệ thống giải pháp mang tính chiến lược và đồng bộ ở cấp độ vĩ mô lẫn vi mô nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh, đa dạng hóa thị trường và định vị thương hiệu gạo Việt Nam.

Phạm vi nghiên cứu tập trung vào vùng sản xuất trọng điểm Đồng bằng sông Cửu Long (vùng cung cấp trên 90% lượng gạo xuất khẩu cả nước) và Đồng bằng sông Hồng, cùng mạng lưới thị trường tiêu thụ chính tại Châu Á, Châu Phi, Trung Đông, Châu Mỹ và Châu Âu. Nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn quan trọng khi vạch rõ lộ trình nâng tỷ trọng gạo đặc sản chất lượng cao lên 10% và hướng tới mục tiêu xuất khẩu đạt 5,749 triệu tấn gạo vào năm 2017.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên nền tảng của hai lý thuyết kinh tế quốc tế kinh điển kết hợp với mô hình quản trị chiến lược hiện đại:

  • Lý thuyết Lợi thế so sánh của David Ricardo: Luận giải cơ sở để Việt Nam tận dụng lợi thế tự nhiên về đất đai, nguồn nước, thổ nhưỡng phù sa cổ tại Đồng bằng sông Cửu Long và nguồn nhân lực nông nghiệp dồi dào nhằm tối ưu hóa chi phí sản xuất lúa gạo phục vụ trao đổi mậu dịch quốc tế.
  • Mô hình Kim cương về Lợi thế cạnh tranh quốc gia của Michael Porter: Phân tích 4 nhóm yếu tố then chốt cấu thành năng lực cạnh tranh ngành lúa gạo, bao gồm: điều kiện các yếu tố sản xuất (giống, phân bón, công nghệ sấy xay xát), điều kiện về cầu nội địa và quốc tế, các ngành công nghiệp hỗ trợ (logistics, bảo quản, tài chính ngân hàng), cùng chiến lược, cơ cấu và mức độ cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong ngành.

Bên cạnh đó, đề tài vận dụng mô hình Marketing hỗn hợp quốc tế 4P (Product, Price, Place, Promotion) nhằm định hình chiến lược thâm nhập thị trường nước ngoài. Các khái niệm học thuật cốt lõi được làm rõ bao gồm 4 hình thức xuất khẩu chủ yếu: xuất khẩu trực tiếp, gia công quốc tế, xuất khẩu tại chỗ và tái xuất khẩu; cùng các khái niệm chuyên ngành như chuỗi giá trị nông sản, rào cản kỹ thuật vệ sinh dịch tễ (SPS), tỷ giá hối đoái thực tế và thương hiệu xuất khẩu nông sản.

Phương pháp nghiên cứu

Luận văn tiếp cận vấn đề thông qua phương pháp nghiên cứu kết hợp giữa phân tích định tính và phân tích định lượng trên nguồn dữ liệu thứ cấp toàn diện. Cỡ mẫu nghiên cứu bao trùm toàn bộ chuỗi số liệu thống kê liên tục trong 19 năm (từ năm 1989 đến năm 2007) về diện tích gieo trồng, năng suất, sản lượng, khối lượng và kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam, cùng số liệu của 4 đối thủ cạnh tranh trực tiếp (Thái Lan, Ấn Độ, Pakistan, Trung Quốc) và 5 khu vực thị trường tiêu thụ chính.

Phương pháp chọn mẫu toàn bộ được áp dụng nhằm loại bỏ sai số ngẫu nhiên và phản ánh chính xác chu kỳ biến động thị trường qua các giai đoạn kinh tế. Lý do lựa chọn phương pháp phân tích xu hướng chuỗi thời gian (time-series analysis) và phân tích ma trận điểm mạnh - điểm yếu - cơ hội - thách thức (SWOT) là nhằm bóc tách các quy luật vận động nội tại của ngành, đồng thời xử lý đối chiếu với mô hình kinh tế lượng dự báo cung cầu của Ban Nghiên cứu Kinh tế - Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ (ERS/USDA).

Hệ thống dữ liệu thứ cấp được tổng hợp và kiểm chứng từ các cơ quan uy tín: Tổng cục Thống kê Việt Nam (GSO), Viện Chính sách và Chiến lược Phát triển Nông nghiệp Nông thôn (IPSARD), Viện Nghiên cứu Lúa Quốc tế (IRRI), Hiệp hội Lương thực Việt Nam (Vietfood) và cơ sở dữ liệu thương mại quốc tế của USDA giai đoạn 2000 – 2008.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình phân tích thực chứng giai đoạn 1989 – 2007 đã chỉ ra 4 phát hiện quan trọng:

  1. Quy mô sản lượng và kim ngạch xuất khẩu tăng trưởng vượt bậc nhưng thiếu tính ổn định lâu dài: Sản lượng lúa cả nước tăng từ 18,99 triệu tấn năm 1989 lên trên 35,9 triệu tấn năm 2007, với tốc độ tăng trưởng bình quân 3,87%/năm. Kim ngạch xuất khẩu đạt đỉnh 1,34 tỷ USD năm 2005 (5,3 triệu tấn) và chạm mốc 1,45 tỷ USD năm 2007 (4,5 triệu tấn), tuy nhiên diện tích canh tác có xu hướng giảm từ sau năm 2003 (giảm bình quân hơn 100 nghìn ha mỗi năm) do áp lực công nghiệp hóa và đô thị hóa.
  2. Cơ cấu thị trường xuất khẩu phụ thuộc lớn vào khu vực truyền thống: Khu vực Châu Á chiếm tỷ trọng áp đảo với 61,58% kim ngạch xuất khẩu giai đoạn 2000 – 2007, trong đó riêng hai thị trường Philippines (36%) và Indonesia (27%) đã chiếm tới 63% tổng sản lượng gạo xuất khẩu năm 2007. Thị trường Châu Phi chiếm 17,13%, Châu Mỹ đạt 14,73%, trong khi Trung Đông chỉ chiếm 4,2% và thị trường cao cấp như Châu Âu - Châu Úc chỉ đạt 2,36%.
  3. Cơ cấu chủng loại phẩm cấp gạo còn thấp: Dù tỷ lệ gạo chất lượng cao 5% tấm đã tăng lên mức 34,5% vào năm 2007, gạo chất lượng trung bình và thấp (15% đến 25% tấm) vẫn chiếm tỷ lệ lớn trong các hợp đồng tập trung. Gạo nếp xuất khẩu chỉ đạt khoảng 230.000 tấn và gạo thơm đặc sản chiếm tỷ trọng dưới 2% tổng khối lượng mậu dịch.
  4. Tổn thất công nghệ sau thu hoạch ở mức báo động: Tỷ lệ thất thoát lúa gạo sau thu hoạch tại Việt Nam dao động từ 13% đến 16%, cao nhất khu vực Châu Á. Riêng tại Đồng bằng sông Cửu Long, 3 khâu gặt đập, phơi sấy và xay xát chiếm tới 68% tổng lượng tổn thất, tương đương làm mất trắng khoảng 1,92 triệu tấn gạo, làm giảm trực tiếp khoảng 460 triệu USD giá trị xuất khẩu mỗi năm.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản của các tồn tại trên bắt nguồn từ việc tổ chức sản xuất lúa gạo chưa hình thành vùng chuyên canh hàng hóa lớn gắn kết với chế biến công nghiệp. Hơn 80% tổng sản lượng lúa xuất khẩu vẫn được sơ chế tại các cơ sở xay xát nhỏ lẻ, thiếu hệ thống máy sấy tầng sôi và kho chứa chuyên dụng đạt chuẩn. Việc phân bổ nhà máy chế biến tập trung quá nhiều tại khu vực TP. Hồ Chí Minh, Cần Thơ, Tiền Giang mà thiếu vắng tại các vùng rốn lúa nguyên liệu như An Giang, Đồng Tháp, Sóc Trăng đã làm gia tăng chi phí vận chuyển và trung gian thương lái.

Khi so sánh với Thái Lan – quốc gia sở hữu trên 90% nhà máy xay xát quy mô lớn, tỷ lệ tổn thất chỉ từ 7% đến 10% và tỷ trọng gạo cao cấp xuất khẩu đạt trên 70% – có thể thấy rõ gạo Việt Nam bị thua thiệt về giá trị thương hiệu. Số liệu có thể được minh họa trực quan qua biểu đồ đường thể hiện biên độ chênh lệch giá xuất khẩu giữa Việt Nam và Thái Lan giai đoạn 1989 – 2007, cùng bảng cân đối dòng lưu chuyển gạo sang thị trường Châu Phi và Trung Đông. Việc hầu hết giao dịch sang Châu Phi phải qua trung gian thương nhân quốc tế đã đẩy giá bán lẻ lên tới 800 USD/tấn trong khi doanh nghiệp và người nông dân trong nước không được hưởng lợi tương xứng.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả dự báo của ERS/USDA về mức tăng trưởng thương mại lúa gạo toàn cầu 2,4%/năm đến năm 2017, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp hành động chiến lược:

  1. Hiện đại hóa công nghệ sau thu hoạch và quy hoạch chuỗi cung ứng: Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn phối hợp với Ủy ban Nhân dân các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long đầu tư đồng bộ hệ thống kho dự trữ và trạm sấy công nghiệp công suất lớn tại vùng nguyên liệu. Mục tiêu hành động là kéo giảm tỷ lệ tổn thất sau thu hoạch từ mức 15% xuống dưới 8% trước năm 2017, giúp tiết kiệm hơn 300 triệu USD mỗi năm.
  2. Tái cơ cấu giống lúa và chuyển dịch phân khúc sản phẩm: Hiệp hội Lương thực Việt Nam (Vietfood) liên kết với các viện nghiên cứu giống nông nghiệp triển khai thay thế giống lúa phẩm cấp thấp bằng các giống lúa thơm hạt dài thuần chủng. Mục tiêu cụ thể là nâng tỷ trọng xuất khẩu gạo đặc sản từ mức 1,8% năm 2008 lên 10% vào năm 2017, đồng thời giảm dần tỷ lệ gạo phẩm cấp thấp xuống dưới 10%.
  3. Xây dựng và bảo hộ thương hiệu gạo quốc gia: Bộ Công Thương chủ trì phối hợp với các doanh nghiệp xuất khẩu xây dựng bộ nhận diện thương hiệu tập thể cho gạo Việt Nam gắn với chỉ dẫn địa lý, tương tự mô hình gạo Jasmine hay Basmati. Hoàn thành đăng ký bảo hộ sở hữu trí tuệ tại 20 thị trường trọng điểm trước năm 2015 nhằm nâng giá bán bình quân ngang bằng hoặc vượt gạo Thái Lan.
  4. Đa dạng hóa thị trường và phát triển hệ thống phân phối trực tiếp: Doanh nghiệp xuất khẩu chủ động chuyển từ hình thức ủy thác qua thương lái quốc tế sang thành lập văn phòng đại diện, kho ngoại quan và công ty liên doanh tại các thị trường tiềm năng như Châu Phi (nâng thị phần lên 30% vào năm 2017) và Trung Đông (chiếm 10% thị phần). Áp dụng phương thức Piggybacking và đẩy mạnh sàn giao dịch thương mại điện tử nhằm tối ưu hóa 100% chi phí phân phối trung gian.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  1. Cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách: Lãnh đạo và chuyên viên tại Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Bộ Công Thương, Sở Công Thương các tỉnh Nam Bộ sử dụng các phân tích dự báo để xây dựng chính sách tín dụng hỗ trợ tạm trữ lúa gạo, quy hoạch vùng chuyên canh lúa chất lượng cao và đàm phán hiệp định thương mại song phương.
  2. Ban lãnh đạo doanh nghiệp xuất khẩu lương thực: Giám đốc điều hành, nhà quản trị chuỗi cung ứng và xuất nhập khẩu ứng dụng mô hình phân bổ kênh phân phối trực tiếp, tái cấu trúc nhà máy xay xát đạt chuẩn quốc tế và xây dựng chiến lược định giá thâm nhập thị trường mới.
  3. Giảng viên, nghiên cứu sinh và sinh viên ngành Kinh tế - Quản trị kinh doanh: Sử dụng làm tài liệu tham khảo học thuật chuyên sâu về phân tích lợi thế cạnh tranh ngành hàng nông sản, phương pháp xử lý chuỗi dữ liệu kinh tế thứ cấp 20 năm và kỹ thuật xây dựng ma trận chiến lược SWOT trong thương mại quốc tế.
  4. Hợp tác xã nông nghiệp và tổ chức liên kết nông dân: Ban quản trị hợp tác xã tại Đồng bằng sông Cửu Long tham khảo để chuyển đổi cơ cấu giống lúa, áp dụng quy trình kiểm soát dư lượng thuốc bảo vệ thực vật nhằm đáp ứng 579 tiêu chuẩn kiểm dịch khắt khe của thị trường Nhật Bản và EU.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao giá gạo xuất khẩu của Việt Nam trong giai đoạn dài luôn thấp hơn gạo Thái Lan? Nguyên nhân chủ yếu do công nghệ sau thu hoạch của nước ta còn lạc hậu với tỷ lệ tổn thất 13% - 16%, trên 80% lúa xay xát tại các lò thủ công khiến tỷ lệ tấm cao, chất lượng không đồng đều. Ngoài ra, Việt Nam chưa xây dựng được thương hiệu quốc gia mạnh và hệ thống chỉ dẫn địa lý như gạo Jasmine của Thái Lan.

Thị trường Châu Phi có tiềm năng và rào cản lớn nhất nào đối với gạo Việt Nam? Châu Phi chiếm khoảng 22% - 23% nhu cầu nhập khẩu gạo toàn cầu với nhu cầu tiêu thụ tăng liên tục. Tuy nhiên, rào cản lớn nhất của doanh nghiệp Việt Nam là khó khăn trong khâu thanh toán quốc tế, chi phí vận tải biển cao và phần lớn phải bán gián tiếp qua các thương nhân trung gian quốc tế với giá thành bị đội lên tới 800 USD/tấn.

Mục tiêu chuyển dịch cơ cấu chủng loại gạo xuất khẩu đến năm 2017 được xác định ra sao? Theo định hướng của luận văn, Việt Nam tập trung nâng tỷ trọng gạo đặc sản chất lượng cao từ khoảng 1,8% năm 2008 lên 10% vào năm 2017. Đồng thời, cơ cấu gạo thường sẽ giảm tương ứng từ hơn 98% xuống còn 90%, giảm mạnh tỷ trọng các loại gạo cấp thấp 25% - 35% tấm để tối ưu hóa giá trị kim ngạch.

Biến động diện tích đất trồng lúa ảnh hưởng như thế nào đến sản lượng gạo xuất khẩu? Từ năm 2003 đến 2007, diện tích lúa giảm bình quân từ 5 nghìn đến 116 nghìn ha mỗi năm do quá trình đô thị hóa. Để đạt mục tiêu xuất khẩu 5,749 triệu tấn năm 2017, ngành nông nghiệp bắt buộc phải chuyển từ tăng sản lượng theo diện tích sang tăng năng suất thâm canh và áp dụng giống lúa lai có năng suất cao.

Doanh nghiệp xuất khẩu gạo quy mô vừa và nhỏ nên chọn hình thức thâm nhập thị trường nào? Doanh nghiệp có ngân sách hạn chế nên áp dụng hình thức xuất khẩu trực tiếp kết hợp mô hình Piggybacking (tận dụng kênh phân phối sẵn có của đối tác quốc tế) hoặc mở rộng bán hàng qua thương mại điện tử B2B nhằm tiết giảm chi phí thiết lập chi nhánh nước ngoài và kiểm soát rủi ro thanh toán.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa 19 năm phát triển của ngành hàng lúa gạo Việt Nam (1989 – 2007), xác lập bức tranh toàn cảnh về thành tựu xuất khẩu hơn 65 triệu tấn gạo và đóng góp 14% - 16% thị phần toàn cầu.
  • Đề tài chỉ rõ những nút thắt cốt lõi: tổn thất sau thu hoạch lên tới 16%, thất thoát 460 triệu USD mỗi năm, cơ cấu thị trường phụ thuộc 61,58% vào Châu Á và thiếu hụt thương hiệu nông sản quốc gia.
  • Nghiên cứu đóng góp hệ thống dự báo toàn diện về cung cầu thương mại lúa gạo thế giới đến năm 2017, đưa ra kịch bản tăng trưởng xuất khẩu đạt 5,749 triệu tấn.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp đồng bộ: quy hoạch công nghệ sau thu hoạch, nâng tỷ trọng gạo đặc sản lên 10%, xây dựng thương hiệu bảo hộ quốc tế và đa dạng hóa mạng lưới phân phối trực tiếp.
  • Các đơn vị quản lý và doanh nghiệp cần bắt tay ngay vào việc chuẩn hóa chuỗi giá trị lúa gạo, hiện đại hóa hạ tầng sấy tồn trữ để nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển bền vững trong thập kỷ hội nhập mới.