phần mở đầu, kết luận, mục lục, phụ lục, bảng biểu và tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc kết cấu theo 03 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Lý luận về nợ xấu ngân hàng thƣơng mại và công tác xử lý nợ xấu tại NHTM Chƣơng 2: Thực trạng công tác xử lý nợ xấu tại Ngân hàng TNHH TM MTV Đại Dƣơng – chi nhánh Hà Nội giai đoạn 2014 – 2016. Chƣơng 3: Giải pháp hoàn thiện công tác xử lý nợ xấu tại Ngân hàng TNHH MTV Đại Dƣơng – chi nhánh Hà Nội giai đoạn 2017 -2020. 4 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ NỢ XẤU NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI VÀ CÔNG TÁC XỬ LÝ NỢ XẤU 1. NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI VÀ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI.
Khái niệm Ngân hàng thương mại Ngân hàng thƣơng mại đã hình thành tồn tại và phát triển hàng trăm năm gắn liền với sự phát triển của kinh tế hàng hoá. Sự phát triển hệ thống ngân hàng thƣơng mại (NHTM) đã có tác động rất lớn và quan trọng đến quá trình phát triển của nền kinh tế hàng hoá. Thông qua hoạt động tín dụng ngân hàng thƣơng mại tạo lợi ích cho ngƣời gửi tiền, ngƣời vay tiền và cho cả ngân hàng thông qua chênh lệch lãi suất mà thu đƣợc lợi nhuận cho ngân hàng. Cho đến thời điểm hiện nay có rất nhiều khái niệm về NHTM: - Ở Mỹ: NHTM là công ty kinh doanh tiền tệ, chuyên cung cấp dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ tài chính.
- Đạo luật ngân hàng của Pháp (1941) cũng đã định nghĩa: "NHTM là những xí nghiệp hay cơ sở mà nghề nghiệp thƣờng xuyên là nhận tiền bạc của công chúng dƣới hình thức ký thác, hoặc dƣới các hình thức khác và sử dụng tài nguyên đó cho chính họ trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và tài chính". - Ở Việt Nam, Định nghĩa Ngân hàng thƣơng mại: Ngân hàng thƣơng mại là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thƣờng xuyên là nhận tiền ký gửi từ khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phƣơng tiện thanh toán. Theo luật các tổ chức tín dụng: Ngân hàng thƣơng mại là tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng và các quy định khác của pháp luật. (Nghị định số 59/2009/NĐ-CP ngày 16/07/2009 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của NHTM) NHTM là một trong những định chế tài chính mà đặc trƣng là cung cấp đa 5 dạng các dịch vụ tài chính với nghiệp vụ cơ bản là nhận tiền gửi, cho vay và cung ứng các dịch vụ thanh toán.
Ngoài ra, NHTM còn cung cấp nhiều dịch vụ khác nhằm thoả mãn tối đa nhu cầu về sản phẩm dịch vụ của xã hội. Hoạt động tín dụng của NHTM 1. Khái niệm tín dụng của NHTM Hiện nay, trong xu thế hội nhập và cạnh tranh ngày càng gay gắt đã đặt ra cho mỗi chủ thể kinh tế có những cơ hội và thách thức mới và yêu cầu mới. Một trong số đó là họ phải có một lƣợng vốn đủ lớn khi hoạt động sản xuất kinh doanh cần nhu cầu vốn vƣợt quá khả năng vốn tự có của doanh nghiệp.
Để giải quyết khó khăn này, họ có thể trực tiếp gặp nhau để thƣơng lƣợng việc vay vốn hoặc thông qua một thị trƣờng tài chính mà chủ yếu là gặp gián tiếp thông qua các NHTM. NHTM là một trung gian tài chính đặc biệt, chuyên thực hiện việc đƣa ngƣời đi vay và ngƣời cho vay trong nền kinh tế gặp nhau, hay nói một cách khác NHTM là loại hình tổ chức tài chính trung gian cung cấp danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất, đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm, dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế. Trong đó, hoạt động tín dụng là hoạt động chủ yếu đem lại lợi nhuận cho ngân hàng, quyết định đến sự tồn tại và phát triển của ngân hàng. Tuy nhiên tuỳ theo góc độ nghiên cứu, thuật ngữ tín dụng có thể đƣợc hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau: - Xét trên góc độ chuyển dịch quỹ cho vay từ chủ thể thặng dƣ tiết kiệm sang chủ thể thâm hụt tiết kiệm thì tín dụng đƣợc coi là các phƣơng pháp chuyển dịch quỹ từ ngƣời cho vay sang ngƣời đi vay.
- Xét một quan hệ tài chính cụ thể, tín dụng là một giao dịch về tài sản trên cơ sở có hoàn trả giữa hai chủ thể. Phổ biến hơn cả là các giao dịch giữa ngân hàng và các định chế tài chính khác, giữa các doanh nghiệp vá cá nhân thể hiện dƣới hình thức cho vay, tức là ngân hàng cấp tiền vay cho bên đi vay và sau một thời hạn nhất định ngƣời đi vay phải thanh toán cả gốc và lãi. - Theo chức năng hoạt động của ngân hàng thì tín dụng đƣợc hiểu là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hóa) giữa bên cho vay (ngân hàng và các định chế tài 6 chính) và bên đi vay, trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong thời hạn nhất định theo thoả thuận, bên đi vay có trách nhiệm trả vô điều kiện gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán. - Theo Luật các Tổ chức tín dụng của nƣớc Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam số 47/2010/QH12 ngày 16/06/2010: “Tổ chức tín dụng đƣợc cấp tín dụng cho tổ chức, cá nhân dƣới các hình thức cho vay, chiết khấu thƣơng phiếu và các giấy tờ có giá khác, bảo lãnh, cho thuê tài chính và các hình thức khác theo quy định của Ngân hàng Nhà nƣớc”.
Tóm lại, tín dụng là quan hệ vay mƣợn giữa các chủ thể dựa trên nguyên tắc hoàn trả và chữ tín. Khi gắn tín dụng với một chủ thể nhất định, tín dụng chỉ có một chiều là ngân hàng cấp tín dụng cho khách hàng dựa trên nguyên tắc hoàn trả vô điều kiện cả gốc và lãi cho NHTM khi đến hạn thanh toán, chứ không gồm việc ngân hàng huy động vốn của khách hàng. Hoạt động tín dụng là hoạt động quan trọng nhất của các Ngân hàng thƣơng mại, chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng tài sản, tạo thu nhập từ lãi lớn nhất và cũng là hoạt động mang nhiều rủi ro nhất. Vai trò của hoạt động tín dụng ngân hàng Sản xuất phát triển mạnh mẽ sẽ thúc đẩy nền kinh tế hàng hóa phát triển ở mỗi quốc gia trên thế giới.
Song để cho quá trình sản xuất đƣợc mở rộng và ngày càng hoàn thiện phải kể tới vai trò to lớn của hoạt động tín dụng trong các NHTM. Đối với doanh nghiệp: - Tín dụng là một trong những nguồn tài trợ cho việc mở rộng quy mô sản xuất; mở rộng thị trƣờng của doanh nghiệp. Mở rộng sản xuất kinh doanh đòi hỏi một lƣợng vốn lớn và thời gian thu hồi lâu nên không phải doanh nghiệp nào cũng có thể tự mình tài trợ cho các hoạt động này, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ, mới tham gia vào thị trƣờng. Đối với những doanh nghiệp này thì nguồn vốn tín dụng ngân hàng là nguồn quan trọng nhất vì họ chƣa thể phát hành trái phiếu hay cổ phiếu ra công chúng.
Với những lợi thế đặc thù thì tín dụng của ngân hàng là phƣơng án lựa chọn thích hợp bên cạnh những nguồn vốn khác nhƣ trên thị trƣờng chứng khoán. 7 - Tín dụng ngân hàng tạo điều kiện cho doanh nghiệp nâng cấp dây chuyền sản xuất, đổi mới công nghệ. Chi phí giành cho đầu tƣ cho hoạt động này cũng đòi hỏi có một nguồn vốn lớn tƣơng tự nhƣ vốn cho mở rộng sản xuất, xây dựng cơ bản. Việc sở hữu những công nghệ tốt giúp doanh nghiệp có thể tăng năng suất lao động, nâng cao chất lƣợng sản phẩm, giảm chi phí khác, tăng thêm khả năng cạnh tranh.
Sử dụng nguồn vốn vay từ ngân hàng giúp doanh nghiệp tự chủ trong hoạt động sản xuất, kiểm soát, định hƣớng kinh doanh. - Tín dụng ngân hàng còn giúp doanh nghiệp có thể nắm bắt kịp thời các cơ hội. Trong điều kiện kinh tế phát triển và cạnh tranh ngày càng gay gắt nhƣ hiện nay, việc nắm bắt tốt thời cơ, mạnh dạn đẩy mạnh sản xuất, đi đầu trong một lĩnh vực mới là điều cần thiết nhất. Nguồn vốn tín dụng của ngân hàng sẽ giúp doanh nghiệp thực hiện đƣợc điều mà một số nguồn vốn khác không đáp ứng kịp thời.
Đối với các ngân hàng thương mại: - Hoạt động tín dụng mang lại thu nhập cao và tăng sức cạnh tranh cho ngân hàng. Tín dụng là hoạt động mang tính chiến lƣợc của các ngân hàng thƣơng mại vì những hoạt động này mang lại thu nhập mà tỉ trọng cao trong tổng thu nhập của ngân hàng thƣơng mại. - Hoạt động tín dụng giúp ngân hàng tạo ra duy trì lƣợng khách hàng của mình trong tƣợng lai, giúp mối quan hệ giữa khách hàng và ngân hàng tồn tại lâu hơn. Ngân hàng sẽ thuyết phục khách hàng sử dụng các dịch vụ khác của mình, nhờ đó ngân hàng có thể tăng doanh thu từ những hoạt động này.
Đối với nền kinh tế: - Tín dụng ngân hàng thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung vốn, tăng tốc độ phát triển nền kinh tế, xây dựng cơ sở hạ tầng; mở rộng quy mô sản xuất, nâng cấp công nghệ đƣợc thực hiện kịp thời, đáp ứng nhu cầu của thị trƣờng, đẩy nhanh quá trình tái sản xuất mở rộng, đầu tƣ phát triển xã hội. - Tín dụng ngân hàng rất quan trọng trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế và phát triển các ngành kinh tế mũi nhọn. Dù là đầu tƣ trực tiếp hay gián tiếp thì tín dụng cũng tác động tích cực tới việc phát triển công nghệ, tăng năng suất, tạo 8 thêm việc làm giúp nền kinh tế tăng trƣởng. - Tín dụng tài trợ cho hoạt động ngoại thƣơng, thúc đẩy kinh tế đối ngoại.
Với bối cảnh khu vực hóa, toàn cầu hóa thì tín dụng ngân hàng đã trở thành công cụ kết nối các quốc gia thông qua các hoạt động nhƣ: tài trợ ngoại thƣơng, tín dụng hỗ trợ phát triển và cho vay… 1.3 Đặc điểm tín dụng của NHTM: Từ khái niệm trên, ta rút ra bản chất của tín dụng là một giao dịch về tài sản và một quan hệ tín dụng phải thỏa mãn 4 đặc trƣng: cơ sở lòng tin, tính thời hạn, tính hoàn trả và ẩn chứa nhiều rủi ro.