phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, phần nội dung của luận văn đƣợc chia làm 3 chƣơng. Chƣơng 1: Một số vấn đề lý luận chung về chính sách xóa đói giảm nghèo và những rào cản trong việc thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo Chƣơng 2: Nhận diện những rào cản trong thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo ở huyện Võ Nhai tỉnh Thái Nguyên, giai đoạn 2011 – 2013 Chƣơng 3: Quan điểm, phương hướng và giải pháp khắc phục rào cản trong việc thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo ở huyện Võ Nhai 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com PHẦN NỘI DUNG CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHÍNH SÁCH XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO VÀ NHỮNG RÀO CẢN TRONG VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO 1. Một số khái niệm có liên quan tới vấn đề nghiên cứu 1. Khái niệm “nghèo, đói” Nghèo, đói là một hiện tƣợng kinh tế chính trị xã hội tổng hợp không chỉ tồn tại ở các quốc gia có nền kinh tế kém phát triển mà còn tồn tại ngay tại các quốc gia phát triển.
Tùy thuộc vào điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế của mỗi quốc gia mà tính chất, mức độ nghèo đói ở từng quốc gia có khác nhau. Trên bình diện lý luận, cho tới nay chƣa có khái niệm thống nhất về nghèo, đói. Tùy vào góc độ tiếp cận khác nhau mà ngƣời ta đƣa ra những quan niệm khác nhau về nghèo, đói. Hội nghị thƣợng đỉnh thế giới về phát triển tổ chức tại Copenhaghen (Đan Mạch) tháng 3/1995 đã đƣa ra định nghĩa về nghèo nhƣ sau: “Người nghèo là người mà tất cả thu nhập của họ nhỏ hơn 1USD/ngày, đây là số tiền được coi như đủ mua những sản phẩm cần thiết để tồn tại”.
Nhƣ vậy, theo định nghĩa này, một ngƣời đƣợc cho là nghèo nếu thu nhập của anh ta ở mức dƣới 1 USD/ngày. Thoạt tiên, thƣớc đo này tƣởng chừng sẽ cung cấp cho chúng ta cách thức xác định rất đơn giản các đối tƣợng đƣợc cho là nghèo trong xã hội, tuy vậy, sức mua từ khoản thu nhập này là không giống nhau ở những quốc gia khác nhau, thậm chí là các địa phƣơng khác nhau trong cùng một quốc gia. Do đó, nếu căn cứ vào định nghĩa này để xác định tình trạng nghèo là chƣa hoàn toàn chính xác. Theo quan niệm của Tổ chức Liên hợp quốc (UNDP), nghèo có hai dạng: nghèo tuyệt đối và nghèo tƣơng đối.
Nghèo tuyệt đối (nghèo thu nhập): đo lường mức chi tiêu cần thiết để đảm bảo một người có thể mua được một lượng lương 19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thực thực phẩm tương đương 2100-2300 kcalo/người/ngày. Nhƣ vậy, có thể thấy, mức nghèo tuyệt đối đƣợc đề cập tới trong khái niệm trên đây là thƣớc đo dễ lƣợng hóa để mô tả tình trạng đói nghèo. Tuy vậy, cách thức để xác định các đối tƣợng đƣợc cho là nghèo tuyệt đối trên đây lại có phần phức tạp. Nghèo tương đối là sống ở ranh giới ngoài cùng của tồn tại, những người nghèo tương đối là những người phải đấu tranh để sinh tồn trong các thiếu thốn tồi tệ và trong tình trạng bỏ bê và mất phẩm cách vượt qua sức tưởng tượng mang dấu ấn của cảnh ngộ may mắn của giới trí thức chúng ta.
Nhƣ vậy, nghèo tƣơng đối không chỉ bao hàm mức thu nhập và tiêu dùng thấp mà còn bao hàm cả sự hƣởng thụ thấp về giáo dục, y tế, văn hóa và những nhu cầu sơ đẳng nhất của con ngƣời. Đặc biệt, nghèo tƣơng đối còn đề cập tới sự thiếu quyền lực và tiếng nói cũng nhƣ tính chất dễ bị tổn thƣơng và đe dọa của ngƣời nghèo. Nếu nhƣ mức nghèo tuyệt đối có phƣơng pháp tính toán riêng nên ranh giới nghèo tuyệt đối đƣợc xác lập cụ thể thì ranh giới của nghèo tƣơng đối là rất khó xác định, bởi lẽ không có một tiêu chuẩn chung để đo lƣờng mức nghèo tƣơng đối. Ranh giới của mức nghèo tƣơng đối phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế xã hội của từng quốc gia và mức độ quan tâm của chính phủ của các quốc gia đó.
Tại Hội nghị bàn về giảm đói nghèo trong khu vực châu Á – Thái Bình Dƣơng do Ủy ban Kinh tế Xã hội châu Á Thái Bình Dƣơng Liên Hiệp Quốc (UNESCAP hay ESCAP) tổ chức tháng 9/1993 tại Băng Cốc (Thái Lan) đã khẳng định: “Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người, mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế xã hội và phong tục tập quán của từng địa phương”. Đây là khái niệm khá đầy đủ về đói nghèo đƣợc nhiều nƣớc trên thế giới nhất trí sử dụng trong đó có Việt Nam. Khái niệm nghèo này đã phản ánh các khía cạnh: Nhu cầu cơ bản của con người (ăn, mặc, ở, đi lại, y tế, giáo dục, văn hóa) không được thỏa mãn; Nghèo thay đổi theo thời gian và không gian. Do đó, không thể có một chuẩn nghèo chung cho tất cả các quốc gia.
20 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Qua các các quan niệm về nghèo nêu trên đã cho thấy nội hàm cơ bản của khái niệm nghèo, đói là: Người nghèo không có hoặc ít được hưởng thụ những nhu cầu cơ bản ở mức tối thiểu của cuộc sống con người; Người nghèo có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng dân cư ở địa phương; Người nghèo thiếu hoặc không có cơ hội lựa chọn, tham gia trong quá trình phát triển cộng đồng. Ở Việt Nam, trong nhận thức, đói nghèo đƣợc hiểu là tình trạng cơm không đủ ăn, quần áo không đủ mặc, con cái không đƣợc học hành, ốm đau không có tiền chữa bệnh, nhà cửa tạm bợ. Trên bình diện lý luận, trong hầu hết các công trình và tài liệu nghiên cứu, các nhà nghiên cứu trong nƣớc đều thống nhất với định nghĩa về nghèo đói đƣợc (ESCAP) đƣa ra tại Hội nghị tổ chức tại Băng Cốc – Thái Lan năm 1993 nêu trên. Và đây cũng là khái niệm mà tác giả sử dụng để tiếp cận vấn đề nghèo trong luận văn này.
Điểm khác biệt so với nhiều nƣớc là bên cạnh khái niệm nghèo, chúng ta còn sử dụng khái niệm đói để phân biệt mức độ nghèo của một bộ phận dân cƣ. Đói là tình trạng một bộ phận dân cƣ nghèo, có mức sống dƣới mức tối thiểu, không đảm bảo nhu cầu vật chất để duy trì cuộc sống. Đó là các hộ dân cƣ hàng năm thiếu ăn, đứt bữa từ 1 đến 3 tháng, thƣờng vay mƣợn cộng đồng và thiếu khả năng chi trả. Giá trị đồ dùng trong nhà không đáng kể, nhà ở dột nát, con thất học, bình quân thu nhập đầu ngƣời thấp.2 Chúng ta sử dụng chuẩn nghèo để xác định mức độ nghèo đói của các hộ gia đình.
Chuẩn nghèo của Việt Nam đƣợc xây dựng từ năm 1992 và tới nay đã trải qua 5 lần điều chỉnh. Theo Quyết định số 09/2011/QĐ-TTg quy định chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo áp dụng cho giai đoạn 2011 – 2015 nhƣ sau: - Hộ nghèo ở nông thôn: là hộ có mức thu nhập bình quân từ 400.000 đồng/ngƣời/tháng (từ 4.000 đồng/ngƣời/năm) trở xuống. 2 Theo Nguyễn Vũ Phúc, Khái niệm về nghèo đói, www://voer. 21 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Hộ nghèo ở thành thị: là hộ có mức thu nhập bình quân từ 500.000 đồng/ngƣời/tháng (từ 6.000 đồng/ngƣời/năm) trở xuống.
- Hộ cận nghèo ở nông thôn: là hộ có mức thu nhập bình quân từ 401.000 đồng/ngƣời/tháng. - Hộ cận nghèo ở thành thị: là hộ có mức thu nhập bình quân từ 501.000 đồng/ngƣời/tháng. Khái niệm chính sách Trên thực tế, khái niệm chính sách rất đa dạng. Tùy thuộc vào mỗi cách tiếp cận khác nhau mà ngƣời ta đƣa ra những khái niệm khác nhau về chính sách.
- Theo cách tiếp cận xã hội học, chính sách đƣợc hiểu là tập hợp biện pháp do chủ thể quản lý đƣa ra, nhằm tạo lợi thế cho một hoặc một số nhóm xã hội, giảm lợi thế của một hoặc một số nhóm xã hội khác, để thúc đẩy việc thực hiện một hoặc một số mục tiêu xã hội mà chủ thể quyền lực đang hƣớng tới. - Theo cách tiếp cận nhân học và nhân học xã hội, chính sách đƣợc hiểu là phƣơng tiện tác động tới hàng loạt hoạt động sinh hoạt văn hóa và xã hội của con ngƣời, từ đó dẫn đến những phản ứng của xã hội đối với chính sách và hơn nữa là những kiến tạo xã hội mới do chính sách dẫn đến. - Tiếp cận tâm lý học, chúng ta có thể hiểu chính sách là taapk hợp biện pháp đối xử ƣu đãi với một nhóm xã hội, nhằm kích thích vào động cơ hoạt động của nhóm này hƣớng theo việc thực hiện một hoặc một số mục tiêu của chủ thể quyền lực. - Xét từ tiếp cận đạo đức học, chính sách là thể hiện thái độ đối xử phù hợp đạo đức của một chủ thể quyền lực, chủ thể quản lý với đối tƣợng bị quản lý.
- Xét về mặt pháp lý, chính sách là biện pháp đƣợc thể chế hóa (về mặt pháp lý) để phân biệt đối xử giữa các nhóm xã hội, điều chỉnh động cơ hoạt động của các nhóm hƣớng theo mục tiêu phát triển xã hội. 22 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Tổng hợp tất cả các cách tiếp cận trên đây về chính sách, trong cuốn Giáo trình khoa học chính sách, GS.Vũ Cao Đàm đã đƣa ra khái niệm chính sách nhƣ sau: Chính sách là một tập hợp biện pháp được thể chế hóa, mà một chủ thể quyền lực hoặc chủ thể quản lý đưa ra, trong đó tạo sự ưu đãi một hoặc một số nhóm xã hội, kích thích vào động cơ hoạt động của họ, định hướng hoạt động của họ nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên nào đó trong chiến lược phát triển của hệ thống xã hội. Và đây cũng là cách tiếp cận về chính sách mà tác giả sử dụng trong nghiên cứu này. Từ quan niệm về nghèo, đói đã trình bày trên đây, chúng ta có thể hiểu chính sách XĐGN là tổng thể các quan điểm, tư tưởng, các giải pháp và công cụ mà nhà nước sử dụng để tác động lên các chủ thể kinh tế xã hội nhằm thực hiện mục tiêu XĐGN.
Nhƣ vậy, để thực hiện chính sách XĐGN cần tới sự kết hợp của nhiều yếu tố, bao gồm: chủ thể thực hiện, đối tượng thụ hưởng, biện pháp (cơ chế phối hợp thực hiện) và bản thân các chính sách XĐGN.