CHƯƠNG I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI THẾ HỆ MỚI 1. Đầu tư trực tiếp nước ngoài truyền thống 1. Khái niệm, đặc điểm Có nhiều khái niệm khác nhau về đầu tư trực tiếp nước ngoài (viết tắt theo tiếng Anh là FDI) xuất phát từ những cách tiếp cận khác nhau.
Có thể kể đến một số khái niệm điển hình sau đây. Định nghĩa đầu tiên về FDI được Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) đề cập trong ấn phẩm Định nghĩa định chuẩn của OECD về đầu tư trực tiếp nước ngoài xuất bản lần đầu tiên vào năm 1983, đó là “Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là một loại hình đầu tư phản ánh mục tiêu thiết lập lợi ích lâu dài của một doanh nghiệp đặt tại một nền kinh tế (nhà đầu tư trực tiếp) tại một doanh nghiệp (doanh nghiệp đầu tư trực tiếp) đặt tại một nền kinh tế khác với nền kinh tế của nhà đầu tư trực tiếp đó”1. Về bản chất, định nghĩa này hoàn toàn giống với định nghĩa trong ấn phẩm Sổ tay Cán cân thanh toán và luận điểm đầu tư quốc tế phiên bản 6 (BPM6) năm 2009 của Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) “Đầu tư trực tiếp là một loại hình đầu tư xuyên biên giới gắn với một thực thể thường trú trong một nền kinh tế có quyền kiểm soát hoặc có mức độ ảnh hưởng đáng kể đến việc quản lý một doanh nghiệp đặt tại một nền kinh tế khác” 2. Ngoài ra, định nghĩa này cũng phù hợp với những khái niệm 1 OECD Benchmark Definition of Foreign Direct Investment, first edition (1983), trang 234.
Nguyên bản tiếng Anh: “Foreign direct investment (FDI) is a category of investment that reflects the objective of establishing a lasting interest by a resident enterprise in one economy (direct investor) in an enterprise (direct investment enterprise) that is resident in an economy other than that of the direct investor.” 2 International Monetary Fund’s (IMF) Balance of Payments and International Investment Position Manual 6th edition (BPM6), 2009, trang 100. Nguyên bản tiếng Anh: “Direct investment is a category of cross-border investment associated with a resident in one economy having control or a significant degree of influence on the management of an enterprise that is resident in another economy.” 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com kinh tế chung do Hệ thống tài khoản quốc gia (SNA) đưa ra vào năm 20083. Cho đến nay, khái niệm được sử dụng phổ biến nhất đối với FDI là khái niệm do Hội nghị của Liên hợp quốc về Thương mại và Phát triển (UNCTAD) đưa ra vào năm 1998 trong ấn phẩm “Báo cáo đầu tư thế giới” được xuất bản lần đầu tiên vào năm này: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là đầu tư liên quan đến mối quan hệ lâu dài và phản ánh lợi ích và sự kiểm soát lâu dài của một thực thể đặt tại một nền kinh tế (nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài hoặc công ty mẹ) trong một doanh nghiệp đặt tại một nền kinh tế khác với nền kinh tế của nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài đó (doanh nghiệp FDI hoặc doanh nghiệp liên kết hoặc chi nhánh nước ngoài)”4. Tại Việt Nam, khái niệm FDI được nêu trong Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam (2005) là “việc nhà ĐTNN (bao gồm tổ chức kinh tế, cá nhân) cung cấp vốn bằng tiền hoặc bất kỳ một tài sản nào (kiến thức, công nghệ, việc làm.) được Chính phủ Việt Nam chấp thuận vào Việt Nam để tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật này”.
Như vậy, FDI có hai đặc trưng cơ bản là: - Thứ nhất, FDI là sự dịch chuyển vốn từ nước/lãnh thổ này sang nước/lãnh thổ khác. - Thứ hai, FDI được huy động để phục vụ mục đích thực hiện các hoạt động kinh tế và kinh doanh nhằm mang lại lợi nhuận lâu dài cho nhà đầu tư. Vai trò đối với phát triển kinh tế - xã hội (a) FDI đóng góp trực tiếp, quan trọng vào phát triển kinh tế - xã hội, thể hiện qua những đóng góp cụ thể sau: 3 https://www.org/view/books/071/10402-9789211615227-en/10402-9789211615227-en- book. SNA do Ủy ban Cộng đồng Châu Âu, IMF, OECD, Liên hợp quốc và WB xây dựng nên.
4 UNCTAD, “World Investment Report 1998”, 1998, trang 350. Nguyên bản tiếng Anh: Foreign direct investment (FDI) is defined as an investment involving a long-term relationship and reflecting a lasting interest and control of a resident entity in one economy (foreign direct investor or parent enterprise) in an enterprise resident in an economy other than that of the foreign direct investor (FDI enterprise or affiliate enterprise or foreign affiliate). 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - FDI góp phần gia tăng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội và do vậy là một động lực tăng trưởng kinh tế do tác động tăng vốn dẫn đến tăng năng suất. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng trong một số trường hợp, FDI có thể gây ra hiệu ứng lấn át (crowding-out effect) đối với khu vực doanh nghiệp trong nước nếu được thu hút vào những ngành, lĩnh vực mà doanh nghiệp trong nước đã có sự hiện diện đáng kể rồi.
- FDI góp phần thực hiện chính sách phát triển sản xuất trong nước, cả về phương diện thúc đẩy xuất khẩu và thay thế nhập khẩu. Trong trường hợp quốc gia theo đuổi chính sách thu hút FDI nhằm sản xuất để xuất khẩu (export promotion), FDI có thể đóng góp quan trọng vào gia tăng kim ngạch xuất khẩu (KNXK) và nguồn thu ngoại tệ của quốc gia. Trường hợp ngược lại, nếu quốc gia thu hút FDI với mục tiêu thay thế nhập khẩu (import substitution), tức là sản xuất cho thị trường trong nước, FDI sẽ góp phần tiết kiệm ngoại tệ dùng để nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ; đồng thời tạo ra áp lực cạnh tranh đối với doanh nghiệp trong nước. Trong cả hai trường hợp, FDI đều thúc đẩy phát triển công nghiệp hỗ trợ (CNHT) trong nước để cung ứng đầu vào/sản phẩm trung gian cho các doanh nghiệp FDI, góp phần nâng cao năng lực sản xuất, nâng cao trình độ công nghệ và quản lý của khu vực doanh nghiệp trong nước.
- FDI tạo việc làm, cải thiện thu nhập của người lao động, nhất là trong những ngành sử dụng nhiều lao động như điện tử, dệt - may, giày dép, du lịch, khách sạn - nhà hàng. - Nhìn chung, FDI đóng góp đáng kể cho ngân sách nhà nước (NSNN). Trong một số trường hợp, Chính phủ nước tiếp nhận đầu tư áp dụng ưu đãi miễn, giảm thuế cho nhà ĐTNN trong một số năm đầu hoạt động nhằm thu hút FDI vào những lĩnh vực hoặc địa bàn khuyến khích đầu tư thì đóng góp cho NSNN của FDI trong những năm đầu có thể ít hoặc rất ít nhưng bù lại, tác động về mặt kinh tế và xã hội lại lớn hơn nhiều. 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com (b) FDI góp phần ổn định kinh tế vĩ mô Do có khả năng tạo ra nguồn thu ngoại tệ, nhất là đối với các dự án FDI theo định hướng xuất khẩu, FDI là nguồn bù đắp thâm hụt cán cân thương mại, góp phần ổn định tài chính - tiền tệ, gia tăng dự trữ ngoại hối của quốc gia.
(c) FDI góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao năng suất lao động và sức cạnh tranh của nền kinh tế Do trong hầu hết các trường hợp, mục tiêu cao nhất của nhà đầu tư nước ngoài là lợi nhuận nên phần lớn FDI sẽ được thu hút vào những ngành, lĩnh vực có khả năng mang lại GTGT, tỷ suất lợi nhuận cao. Nhờ vậy, FDI thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, gia tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ - hai khu vực có khả năng mang lại lợi nhuận cao nhất cho nhà đầu tư FDI và GTGT cao cho nước/lãnh thổ tiếp nhận FDI. Đồng thời, cùng với việc thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, FDI góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động theo ngành kinh tế, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực (NNL) do phần lớn các dự án FDI đều đòi hỏi lao động có kỹ năng, ý thức tổ chức kỷ luật tốt để đáp ứng được yêu cầu của những phương thức sản xuất - kinh doanh hiện đại. Trường hợp FDI được thu hút vào những ngành, lĩnh vực sử dụng nhiều lao động, tác động về mặt chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế cũng như cơ cấu lao động theo ngành kinh tế không lớn.
Tuy nhiên, những ngành này thường chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng GTGT do khu vực FDI tạo ra. Ngoài ra, trong 5-10 năm trở lại đây, tỷ trọng FDI vào những ngành này có xu hướng giảm đi do chi phí lao động và chi phí nguyên liệu đầu vào tăng lên nên lợi nhuận mà nhà đầu tư thu được thấp hơn kỳ vọng. Đặc biệt, đại dịch COVID-19 từ cuối năm 2019 đến nay có ảnh hưởng tiêu cực nhất đến các ngành, lĩnh vực sử dụng nhiều lao động do các quy định về giãn cách xã hội, cách ly buộc nhiều doanh nghiệp phải đóng cửa, giảm đáng kể số lượng lao động. Nhìn chung, FDI tạo hiệu ứng lan tỏa về năng suất và công nghệ, góp phần phát triển CNHT, nâng 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cao năng suất lao động (NSLĐ) và sức cạnh tranh của nền kinh tế.
(d) FDI thúc đẩy hội nhập kinh tế quốc tế (HNKTQT) và cải thiện môi trường đầu tư: Quá trình HNKTQT của một quốc gia/lãnh thổ gắn liền với việc tham gia ký kết nhiều hiệp định song phương và đa phương, hình thành và phát triển quan hệ đối tác với nước ngoài. FDI mang lại nhiều động lực cho quốc gia/lãnh thổ, doanh nghiệp tham gia vào tiến trình HNKTQT về ba phương diện chủ yếu sau: (i) cải thiện khả năng tiếp cận nguồn lực và thị trường nước ngoài; (ii) tăng cường cơ hội kinh tế cho cộng đồng doanh nghiệp và người dân trong nước; và (iii) tạo sức ép để cải cách trong nước theo những thông lệ quốc tế tốt (bao gồm cả một số thông lệ quốc tế tốt nhất). Để thu hút FDI một cách hiệu quả với chất lượng ngày càng cao trong bối cảnh mức độ cạnh tranh về dòng vốn này trên thế giới ngày càng gia tăng, các quốc gia/lãnh thổ tiếp nhận FDI luôn chịu áp lực không ngừng cải thiện môi trường đầu tư về nhiều phương diện (khung pháp lý và chính sách, cơ sở hạ tầng (CSHT), chất lượng nhân lực…). Đầu tư trực tiếp nước ngoài thế hệ mới 1.
Khái niệm, đặc điểm Khái niệm FDI thế hệ mới hay còn gọi là FDI chất lượng cao được đề cập đến nhiều ở Việt Nam trong vài năm gần đây trong bối cảnh dòng vốn FDI toàn cầu có những thay đổi về loại hình, tính chất so với trước đây và quan trọng nhất là Việt Nam đã tham gia một số FTA thế hệ mới.