phần mở đầu, kết luận, danh mục biểu bảng và tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm ba chương như sau: Chƣơng 1. Cơ sở lý luận về hiệu quả tín dụng của NHCSXH Chƣơng 2. Thực trạng hiệu quả tín dụng tại chi nhánh NHCSXH các tỉnh khu vực Tây Nam bộ Chƣơng 3. Giải pháp nâng cao hiệu quả tín dụng tại chi nhánh NHCSXH các tỉnh khu vực Tây Nam bộ 7 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI 1.
Tổng quan về tín dụng của Ngân hàng Chính sách xã hội 1. Khái niệm về tín dụng chính sách xã hội Từ thực tiễn hoạt động xoá đói giảm nghèo của nước ta trong thời gian qua cho thấy: Tín dụng vi mô có mối liên hệ mật thiết với phát triển sản xuất nhỏ, sản xuất nông nghiệp và giảm tỷ lệ nghèo đói. Việc cung cấp tài chính vi mô cho người nghèo và các đối tượng chính sách khác thông qua hình thức tín dụng sẽ mang lại hiệu quả cao hơn nhiều so với hình thức cấp phát, tài trợ cho không. Quá trình tập trung các nguồn vốn và chu chuyển qua hình thức tín dụng đã tạo được một khối lượng vốn gấp nhiều lần để hỗ trợ người nghèo và các đối tượng chính sách khác, đồng thời thông qua việc cung cấp vốn tín dụng, giám sát quá trình sử dụng vốn sẽ giúp người nghèo và các đối tượng chính sách khác biết cách làm ăn, quan tâm đến hiệu quả đồng vốn, làm quen với dịch vụ tài chính - ngân hàng và cơ chế thị trường, tránh tình trạng ỷ lại thụ động, khơi dậy ý thức tự vượt khó vươn lên thoát nghèo, tiến tới làm giàu.
Chính vì vậy, chính sách tín dụng đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác là công cụ quan trọng nhất để thực hiện chương trình mục tiêu Quốc gia XĐGN, bảo đảm an sinh xã hội. Chính sách tín dụng đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác là việc Nhà nước tổ chức huy động các nguồn lực tài chính để cho vay đối với hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác nhằm tạo việc làm, cải thiện đời sống, hạn chế tình trạng đói, nghèo. Vì đây là một loại tín dụng mang tính chính sách nên Nhà nước có chính sách ưu đãi đối với người vay về cơ chế cho vay, cơ chế xử lý rủi ro, lãi suất cho vay, điều kiện, thủ tục vay vốn. 8 Vì vậy, tại Điều 1, Nghị định 78/2002/NĐ-CP ngày 04/10/2002 của Chính phủ đã khẳng định: Tín dụng đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác là việc sử dụng các nguồn lực tài chính do Nhà nước huy động để cho người nghèo và các đối tượng chính sách khác vay ưu đãi phục vụ sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm, cải thiện đời sống; góp phần thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xoá đói giảm nghèo, ổn định xã hội.
Đặc điểm của tín dụng chính sách xã hội Một là, đây là kênh tín dụng không vì mục tiêu lợi nhuận [17]: Mục tiêu của tín dụng chính sách là không vì mục tiêu lợi nhuận mà là nhằm phục vụ sản xuất kinh doanh, tạo việc làm, cải thiện đời sống, góp phần thực hiện chương trình mục tiêu XĐGN, ổn định kinh tế - chính trị và bảo đảm an sinh xã hội. Hai là, đối tượng vay vốn tín dụng chính sách xã hội là người nghèo và các đối tượng chính sách khác theo chỉ định của Chính phủ. [17] Ba là, nguồn vốn để cho vay đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác là nguồn vốn của Nhà nước, tức là nguồn vốn từ Ngân sách và có nguồn gốc từ Ngân sách Nhà nước. Bốn là, người nghèo và các đối tượng chính sách khác khi vay vốn được ưu đãi về lãi suất cho vay, điều kiện vay vốn (Hầu hết các chương trình cho vay không phải thế chấp tài sản), thủ tục cho vay và cách tiếp cận với nguồn vốn tín dụng chính sách xã hội.
Năm là, phương thức cho vay được thực hiện đa phần theo phương thức ủy thác qua các tổ chức chính trị xã hội hoặc trực tiếp cho vay. Như vậy, mặc dù tín dụng chính sách và tín dụng của ngân hàng thương mại thông thường đều là hình thức cấp tín dụng giữa một bên là người đi vay và người cho (ngân hàng) nhưng lại có những điểm khác biệt.1: Phân biệt tín dụng chính sách và tín dụng của ngân hàng thƣơng mại thông thƣờng Tín dụng của ngân hàng thƣơng Tiêu chí Tín dụng chính sách mại thông thƣờng Mục đích Không vì mục tiêu lợi nhuận Vì mục tiêu lợi nhuận hoạt động Nguồn vốn Nguồn vốn từ Ngân sách nhà nước và Nguồn vốn tự có và nguồn vốn tự cho vay nguồn vốn có nguồn gốc ngân sách huy động trên thị trường Hộ nghèo và các đối tượng chính sách Đối tượng khác theo quy định của Chính phủ, Được lựa chọn và quyết định khách hàng không được lựa chọn Do ngân hàng thỏa thuận với người Lãi suất Do Thủ tướng chính phủ công bố, vay trên cơ sở lãi suất cơ bản cho cho vay thường thấp hơn lãi suất huy động NHNN công bố và biên độ cho phép Điều kiện Do Chính phủ, Thủ tướng quy định và Do NHTM quy định (không được cho vay có điều kiện ưu đãi hơn. ưu đãi) Mức cho Do Chính phủ, Thủ tướng quy định Do NHTM quy định vay Phức tạp (kèm theo phương án kinh Thủ tục cho Đơn giản (thường chỉ cần giấy đề nghị doanh, hồ sơ đảm bảo tiền vay, vay vay vốn) chứng minh thu nhập,…) Do NHTM quy định, một phần Xử lý nợ bị Do Chính phủ, Thủ tướng quy định được xử lý bởi quỹ dự phòng rủi ro RRTD Phương Chủ yếu là ủy thác qua các Tổ chức thức cho Thường cho vay trực tiếp chính trị - xã hội. Vai trò của tín dụng chính sách xã hội 1.
Tín dụng chính sách là giải pháp thoát nghèo, đảm bảo an sinh xã hội Tín dụng chính sách đã góp phần cải thiện tình hình thị trường tài chính khu vực nông thôn, nhất là vùng sâu vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số - những vùng có nhiều hộ nghèo sinh sống, đã hạn chế được nạn cho vay nặng lãi, giảm bớt được tình trạng bán, gán, cầm cố ruộng đất hoặc tình trạng bán sản phẩm non ở các khu vực nông thôn. Nguồn vốn tín dụng chính sách dành cho người nghèo đã góp phần tạo nhiều cơ hội việc làm cho người nghèo, phát huy tiềm năng lao động sẵn có của những hộ gia đình nghèo. Thông qua vốn tín dụng cho người nghèo đã hỗ trợ phát triển ngành nghề ở nông thôn như chế biến nông sản, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ phục vụ sản xuất và đời sống cũng như thủ công mỹ nghệ, ngành nghề truyền thống. Nhờ vậy đã giải quyết việc làm cho hàng chục vạn lao động nghèo, giải quyết phần lớn thời gian nông nhàn, tận dụng lao động để khai thác ngành nghề truyền thống, khai thác tiềm năng nội lực để nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống.
Các chương trình tín dụng ưu đãi còn tạo cơ hội cho người nghèo tự vận động, vượt qua khó khăn, vươn lên thoát khỏi đói nghèo, hoà nhập dần dần vào cơ chế kinh tế thị trường. Bên cạnh các Chương trình tín dụng cho vay phát triển sản xuất kinh doanh, tạo việc làm và cải thiện đời sống, còn có các chương trình tín dụng chính sách ưu đãi khác của Chính phủ đối với hộ nghèo, vùng nghèo như chính sách về tăng cường giáo dục thông qua Chương trình cho vay học sinh sinh viên là con em của các hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ có hoàn cảnh khó khăn đang theo học các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và các cơ sở đào tạo nghề; cho vay hỗ trợ làm nhà ở, đi xuất khẩu lao động, v. Các chương trình tín dụng ưu đãi của Nhà nước do NHCSXH đã và đang thực thi không chỉ mang lại thu nhập, nâng cao đời sống kinh tế của người nghèo mà còn tăng cơ hội cho người nghèo hội nhập vào quá trình phát triển của đất nước, góp phần quan trọng vào việc thực hiện mục tiêu xóa đói giảm nghèo, an sinh xã hội của Đảng và Nhà nước.Tín dụng chính sách góp phần vào sự phát triển kinh tế Tín dụng chính sách làm tăng hiệu quả kinh tế: Tín dụng chính sách cho vay ưu đãi hộ nghèo và các đối tượng chính sách để SXKD, cải thiện đời sống…Tín dụng chính sách còn thực hiện cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ, hộ gia đình và thương nhân hoạt động thương mại tại vùng khó khăn. Thực tế, tại vùng nông thôn cũng như vùng khó khăn, kinh tế hộ gia đình chiếm đại đa số.
Khi những hộ gia đình là hộ nghèo và các đối tượng chính sách đã ý thức được việc cần vốn đầu tư phát triển kinh tế thì việc tín dụng chính sách rất cần thiết đối với họ. Gia đình là tế bào của xã hội, kinh tế hộ gia đình phát triển chắc chắn mang lại KTXH phát triển. Do đó, giải quyết chính sách tín dụng đối với các đối tượng này góp phần vào sự phát triển KTXH. Các doanh nghiệp hoạt động SXKD dựa trên vốn chủ sở hữu và vốn vay.
Một doanh nghiệp, sau vốn chủ sở hữu là tập trung vốn vay để phát triển SXKD. Mặc dù mức cho vay tối đa của tín dụng chính sách không lớn và có thể không đáp ứng được đủ nhu cầu của doanh nghiệp nhỏ và vừa nhưng ở những khu vực khó tiếp cận với tín dụng thương mại thì tín dụng chính sách cũng là nguồn vốn hỗ trợ hiệu quả. Hơn nữa, để có thể vay vốn được từ ngân hàng thì các doanh nghiệp cần phải nâng cao uy tín của mình đối với ngân hàng, đảm bảo được các nguyên tắc tín dụng. Muốn vậy, trong các dự án kinh doanh của mình, doanh nghiệp phải chọn dự án có mức sinh lãi cao nhất.
Để các dự án khả thi, doanh nghiệp phải tìm hiểu thị trường khai thác thông tin để định lượng hoạt động kinh doanh của mình có hiệu quả. Điều đó làm tăng hiệu quả kinh tế của dự án, phương án. Mặt khác, một trong những quy định tín dụng của ngân hàng là khâu giám sát sử dụng vốn vay. Với việc giám sát này của ngân hàng, bắt buộc doanh nghiệp phải sử dụng vốn vay đúng mục đích, phải nhạy bén với những thay đổi của thị trường, từ đó góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế.