MỞ ĐẦU 1. Lý do lựa chọn đề tài nghiên cứu Nước sạch là một phần quan trọng trong bức tranh tổng thể về chất lượng của cuộc sống và cũng chính là phần quan trọng không thể thiếu được cho cuộc sống con người. Thông điệp của Liên Hiệp Quốc: “Nước - 2 tỷ người đang khát” đưa ra trong Ngày Môi trường Thế giới năm 2003 đã thể hiện và phản ánh được tính bức bách của gần 1/3 dân cư trên khắp hành tinh do tình trạng thiếu nước, trong đó có Việt Nam. Kể từ sau năm 1975 cho đến những năm đầu thế kỷ XXI, vẫn còn hàng chục triệu người Việt Nam, đặc biệt là người dân sinh sống trong khu vực nông thôn chưa từng có cơ hội tiếp cận với nước sạch [28].
Họ đang phải từng ngày đối mặt với những nguy cơ bệnh tật hiểm nghèo, sức khỏe suy giảm vì thiếu nước sạch. Nước sạch là giấc mơ và cũng là ước vọng của hàng triệu người dân nông thôn Việt Nam. Ngay từ thập niên cuối của thế kỷ 20, nhận thức được tầm quan trọng và tính cấp bách của vấn đề nước sạch trong việc cải thiện đời sống người dân nông thôn, Việt Nam đã xây dựng chính sách, chiến lược và chương trình mới phù hợp với Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ (MDGs) và các mục tiêu quốc gia nhằm cải thiện cung cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn. Kể từ khi Chiến lược quốc gia về Cấp nước sạch và Vệ sinh Môi trường Nông thôn ra đời năm 2000, trong những năm qua, đầu tư cho lĩnh vực cấp nước nông thôn đã gia tăng một cách đáng kể.
Bên cạnh các nguồn đầu tư của Chính Phủ và của các tổ chức quốc tế như UNICEF, Cơ quan Viện trợ phát triển Quốc tế Đan Mạch (DANIDA), Cơ quan Viện trợ phát triển Quốc tế của Úc (AUSAID), Ngân hàng Thế giới (WB), Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) và rất nhiều các tổ chức Chính phủ và phi chính phủ khác, Việt Nam đã đạt được những tiến bộ rõ rệt về cấp nước sinh hoạt nông thôn trong hơn 10 năm qua. Tính đến cuối những năm 1990, tỷ lệ dân cư nông thôn được sử dụng nước hợp vệ sinh ở Việt Nam vẫn còn rất thấp, chỉ khoảng 30%, đến năm 2005 cả nước đã có khoảng 62% người dân nông thôn được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh và cho đến nay đã nâng tỷ lệ người dân nông thôn được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh lên khoảng 84 % vào cuối năm 1 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Tuy nhiên, phần lớn các chương trình đầu tư được tiến hành theo phương thức „tiếp cận truyền thống‟ - nghĩa là các hoạt động thường được quyết định từ trên xuống mà không có sự tham gia và đóng góp ý kiến của các cấp cơ sở, việc cung cấp dịch vụ theo quan điểm của nhà đầu tư, không có hoặc có rất ít sự tham gia của người sử dụng. Nói cách khác, các công trình cấp nước thường được tiến hành xây dựng theo khả năng cung cấp và trang bị kỹ thuật của các nhà đầu tư và do đó, ít quan tâm chú trọng đến nhu cầu và mong muốn của người sử dụng cũng như các khả năng chi trả của họ.
Kết quả là, tính ổn định của các thành quả đã đạt được chưa cao, các công trình chưa được thiết kế phù hợp và không đáp ứng được nhu cầu của người sử dụng; công tác thi công và bảo dưỡng còn kém, thu không đủ bù chi phí vận hành, bảo dưỡng và sửa chữa dẫn đến công trình bị xuống cấp, thậm trí ngừng hoạt động1[4]. Sự tham gia của cộng đồng trong các chương trình và dự án phát triển đã được thực hiện trong nhiều thập kỷ qua tại các nước phát triển. Tuy nhiên, trong khoảng thời gian dài tại Việt Nam người dân không biết làm thế nào để tham gia vào các giai đoạn khác nhau của một chương trình tại địa phương cũng như không có năng lực và kinh nghiệm cần thiết trong quá trình tham gia vào các hoạt động phát triển. Đồng thời, các cơ chế khuyến khích sự tham gia của người dân vào quá trình ra quyết định còn hạn chế, cũng như không có thông tin hay hướng dẫn cụ thể nào giúp người dân tham gia vào quá trình ra quyết định.
Nhận thức được những thách thức trong quá trình phát triển như vậy, từ đầu năm 2000, sự tham gia của cộng đồng đã trở thành một phần quan trọng trong các chương trình và dự án phát triển, đặc biệt là trong các chương trình và dự án của Ngân hàng Phát triển Châu Á, Ngân hàng Thế giới và các tổ chức phát triển khác. „Sự tham gia‟ được coi vừa là mục đích vừa là phương tiện, vì nó xây dựng kỹ năng và nâng cao năng lực hành động của cộng đồng trong việc giải quyết các vấn đề và cải thiện cuộc sống của chính họ, cũng như đáp ứng nhu cầu của người dân, đặc biệt là người nghèo. Các chương trình và dự án sẽ có nhiều cơ hội thành công và bền vững hơn nếu có sự tham gia hiệu quả của người hưởng lợi, 1Thống kê tổng hợp của Trung tâm quốc gia Nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn đến cuối năm 2007 cho biết, cả nước có trên 7.000 công trình cấp nước tập trung mọi quy mô, trong đó chỉ có 1.826 công trình hoạt động tốt (chiếm 41%); 1.537 công trình hoạt động bình thường (35%); 856 công trình kém (hơn 19%) và 214 công trình. không hoạt động.
Như vậy, tỷ lệ công trình cấp nước hoạt động kém hoặc không còn hoạt động chiếm tới gần 25%. 2 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com và sự tham gia này phải diễn ra ở mọi giai đoạn trong chu kỳ hoạt động của dự án, từ hoạch định chính sách và chiến lược, xây dựng dự án, thực hiện dự án, đến giám sát và đánh giá. Dự án cấp nước và vệ sinh nông thôn xã Thanh Trạch, huyện Bố Trạch tỉnh Quảng Bình là một trong 14 tiểu dự án của Dự án Cấp nước và Vệ sinh Môi trường nông thôn vùng miền Trung được thực hiện từ cuối năm 2011 đến hết tháng 12 năm 2016, sử dụng vốn vay của Ngân hàng Phát triển Châu Á và được triển khai thực hiện tại 6 tỉnh miền Trung Việt Nam, bao gồm: Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Nam và Bình Định. Mục tiêu của dự án là cung cấp nước sạch và nhà tiêu hợp vệ sinh cho 100% dân số trong vùng dự án; dân cư trong vùng dự án được cải thiện về hành vi vệ sinh.
Dự án cũng góp phần thực hiện mục tiêu của Chiến lược quốc gia về nước sạch của Việt Nam đến năm 2020; góp phần bảo đảm phát triển „nông thôn bền vững‟ và tham gia giải quyết đồng bộ ba vấn đề - nông dân, nông nghiệp và nông thôn‟ trong chính sách „Tam nông‟. Một trong những nội dung của dự án là huy động sự tham gia của cộng đồng trong các giai đoạn khác nhau của dự án, từ thiết kế, tới triển khai và giám sát đánh giá. Dự án được thực hiện theo phương pháp tiếp cận dựa vào cộng đồng (CBA) thông qua kế hoạch hành động dựa vào cộng đồng được xây dựng dựa trên nhu cầu và đặc điểm của mỗi địa phương, nhằm thay đổi cách tiếp cận truyền thống từ trên xuống (top-down) nói trên. Dự án áp dụng CBA để huy động cộng đồng tham gia tích cực vào tất cả các giai đoạn của chu trình dự án, từ việc xác định đầu tư, lựa chọn kỹ thuật, đóng góp về mặt tài chính và các loại hình đóng góp khác, giám sát xây dựng và quản lý công trình sau xây dựng.
Sự tham gia của cộng đồng được hợp thức hóa bằng cách thành lập các tổ chức cộng đồng của những nhóm người đại diện cho các hộ gia đình được hưởng lợi (như Ban nước và vệ sinh xã; Đội tuyên truyền viên sức khỏe và vệ sinh). Thông qua tổ chức cộng đồng người hưởng lợi sẽ: Lựa chọn hình thức cung cấp nước và công nghệ (đấu nối giữa các hộ gia đình, vòi nước tại hộ gia đình, v.); Trao đổi về mức độ dịch vụ mà họ sẵn sàng và có khả năng chi trả; Đóng vai trò quan trọng trong lập kế hoạch và thiết kế dự án; Đóng góp thời gian, công sức và tài liệu cho dự án; Vận hành và duy trì hệ thống đảm bảo tính ổn định; và Thực hiện can thiệp thay đổi nhận thức và hành vi về sử dụng nước sạch và vệ sinh 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com môi trường. Thực tế đã cho thấy, sự tham gia của cộng đồng là một yếu tố quan tro ̣ng cho s ự thất bại hay thành công c ủa một dự án. Bởi vì cộng đồng, những người hưởng lợi, bao gồm cảphụ nữ, người cao tuổi, hộ nghèo, nữ chủ hộ, người dân tộc thiểu số,…đều có quyền tham gia đóng góp ý kiến vào tất cả các giai đoạn của dự án, do đó thái độ và trách nhiệm làm chủ của mỗi người đều được nâng cao, qua đó đáp ứng tốt nhất nhu cầu của người hưởng lợi, nhằm đảm bảo lợi ích về kinh tế - xã hội trong dài hạn mà dự án sẽ mang lại trong tương lai.
Ở Việt Nam, những nghiên cứu về sự tham gia của cộng đồng trong lĩnh vực cấp nước và vệ sinh nông thôn chưa nhiều, đặc biệt là sự tham gia của cộng đồng góp phần đảm bảo tính ổn định các kết quả do dự án cấp nước mang lại càng ít hơn. Để đạt kết quả ổn định trong lĩnh vực cấp nước và vệ sinh môi trường sau khi dự án kết thúc, bên cạnh công tác đầu tư xây dựng và vận hành kỹ thuật, thì yếu tố sự tham gia của cộng đồng cũng cần được phân tích và đánh giá, từ đó có những giải pháp tăng cường hiệu quả của sự tham gia của cộng đồng trong các dự án cấp nước và vệ sinh môi trường góp phần phát triển nông thôn bền vữngở khu vực nghiên cứu. Với các lý do trên, học viên đã lựa chọn đề tài luận văn thạc sỹ về “Nghiên cứu đề xuất giải pháp tăng cường sự tham gia của cộng đồng trong hoạt động cấp nước nông thôn bền vững tại xã Thanh Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình”. Mục tiêu nghiên cứu - Hiểu được vai trò và mối quan hệ của sự tham gia của cộng đồng trong hoạt động cấp nước sạch với phát triển nông thôn bền vững trong bối cảnh thực hiện xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam hiện nay.
- Đánh giá thực trạng sự tham gia của cộng đồng trong hoạt động cấp nước sạch tại xã Thanh Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình.