phần mở đầu và kết luận, luận văn đƣợc chia thành 03 chƣơng, cụ thể nhƣ sau: Chƣơng 1: Những vấn đề cơ bản về dịch vụ bảo lãnh của Ngân hàng thƣơng mại Chƣơng 2: Thực trạng kinh doanh bảo lãnh tại Ngân hàng Xăng dầu Petrolimex Chƣơng 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh dịch vụ bảo lãnh tại Ngân hàng xăng dầu Petrolimex 5 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ DỊCH VỤ BẢO LÃNH CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. TỔNG QUAN VỀ DỊCH VỤ BẢO LÃNH NHTM 1. Một số khái niệm - Khái niệm về Ngân hàng thương mại Theo luật các Tổ chức tín dụng, Ngân hàng thƣơng mại là tổ chức tín dụng đƣợc thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng và các quy định của pháp luật. - Khái niệm về bảo lãnh Căn cứ theo Bộ luật dân sự số 91/2015/QH13 ngày 24/11/2015, bảo lãnh đƣợc định nghĩa nhƣ sau: “Bảo lãnh là việc ngƣời thứ ba (Bên bảo lãnh) cam kết với bên có quyền (Bên nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ (Bên đƣợc bảo lãnh), nếu khi đến thời hạn thực hiện nghĩa vụ mà bên đƣợc bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ”.
- Khái niệm về dịch vụ bảo lãnh Ngân hàng Theo thông tƣ số 28/2012/TT-NHNN ngày 03/10/2012 Bảo lãnh ngân hàng đƣợc hiểu nhƣ sau: Là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên bảo lãnh cam kết bằng văn bản với bên nhận bảo lãnh sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho bên đƣợc bảo lãnh khi bên đƣợc bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ cam kết với bên nhận bảo lãnh; bên đƣợc bảo lãnh phải nhận nợ và hoàn trả cho bên bảo lãnh theo thoả thuận. Trong thƣơng mại quốc tế, bảo lãnh ngân hàng là hình thức tài trợ ngoại thƣơng, nhằm chống đỡ những tổn thất của ngƣời thụ hƣởng bảo lãnh cho sự vi phạm nghĩa vụ của bên đối tác liên quan. 6 Trong giới hạn mục tiêu nghiên cứu của đề tài, tác giả sẽ đi sâu nghiên cứu các vấn đề liên quan đến bảo lãnh Ngân hàng do Ngân hàng thƣơng mại (NHTM) phát hành. NHTM là loại hình TCTD đƣợc thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận và góp phần thực hiện các mục tiêu kinh tế khác của Nhà nƣớc.
Các ngân hàng thƣờng thực hiện các loại bảo lãnh chủ yếu là bảo lãnh dự thầu, bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảo lãnh hoàn trả tiền ứng trƣớc, bảo lãnh bảo hành, bảo lãnh mua thiết bị trả chậm, bảo lãnh thanh toán, bảo lãnh vay vốn trong nƣớc và ngoài nƣớc, bảo lãnh phát hành trên thị trƣờng chứng khoán. Các bên tham gia trong nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng: + Bên bảo lãnh: NHTM phát hành cam kết bảo lãnh. Đó là NHTM có khả năng tài chính, có chức năng phát hành cam kết và đƣợc ngƣời thụ hƣởng chấp thuận. Có thể là một hoặc nhiều NHTM tham gia cùng bảo lãnh cho một khách hàng.
+ Bên xin bảo lãnh hay bên đƣợc bảo lãnh: Là khách hàng đƣợc ngân hàng bảo lãnh. Bên đƣợc bảo lãnh có thể là tổ chức, cá nhân trong hoặc ngoài nƣớc có đủ điều kiện để đƣợc ngân hàng bảo lãnh. + Bên thụ hƣởng hay bên nhận bảo lãnh : Là tổ chức, cá nhân trong và ngoài nƣớc có quyền thụ hƣởng bảo lãnh của NHTM Ngoài ra, có thể còn có các bên liên quan khác: Bên bảo lãnh đối ứng, bên xác nhận bảo lãnh, bên đảm bảo cho nghĩa vụ đƣợc bảo lãnh.2 Một số đặc điểm cơ bản của dịch vụ bảo lãnh Ngân hàng Bảo lãnh ngân hàng mang những đặc điểm chung của bảo lãnh đã nêu trên và đƣợc cụ thể hóa trong hoạt động của ngân hàng ở những đặc điểm sau: 1.1 Bảo lãnh ngân hàng là mối quan hệ đa phương Để tiến hành đƣợc một nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng, thông thƣờng không chỉ có ngân hàng và ngƣời đƣợc bảo lãnh tham gia mà còn có ngƣời 7 nhận bảo lãnh. Giữa các chủ thể này có mối quan hệ với nhau qua hợp đồng kinh tế.
Quan hệ giữa bên đƣợc bảo lãnh và nhận bảo lãnh thông quan hợp đồng mua bán hàng hóa, quan hệ giữa ngân hàng phát hành và bên nhận bảo lãnh thông qua cam kết bảo lãnh dƣới hình thức thu bảo lãnh, thƣ L/C. Do đó, bảo lãnh ngân hàng không chỉ là mối quan hệ song phƣơng mà là mối quan hệ đa phƣơng.2 Bảo lãnh ngân hàng là một hoạt động ngoại bảng của ngân hàng Khi ngân hàng phát hành một cam kết bảo lãnh thì ngân hàng chƣa thực sự phải bỏ ra số tiền bảo lãnh, ngân hàng chỉ tiến hành thu phí bảo lãnh do bên đƣợc bảo lãnh đóng. Bảng cân đối tài sản chƣa bị thay đổi, do vậy nghiệp vụ bảo lãnh đƣợc coi là một hoạt động ngoại bảng. Bảng cân đối tài sản chỉ thay đổi khi ngân hàng thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh đối với bên nhận bảo lãnh, khi đó ngân hàng sẽ phải chuyển một phần nguồn vốn dùng để cho vay sang hay phải huy động từ các nguồn khác.
Nếu bên đƣợc bảo lãnh chƣa hoàn trả số tiền này thì sẽ phải tiến hành nhận nợ.3 Bảo lãnh là một cam kết mang tính chất đảm bảo gián tiếp Ngân hàng bảo lãnh không phải ngay lập tức dùng vốn của mình để thực hiện nghĩa vụ, mà ngƣời có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ chính là ngƣời đƣợc bảo lãnh. Chỉ khi khách hàng không thực hiện nghĩa vụ thì ngƣời bảo lãnh mới phải thực hiện thay.4 Cam kết bảo lãnh ngân hàng phải được lập bằng văn bản Văn bản bảo lãnh có thể là hợp đồng bảo lãnh, thƣ, điện, telex hoặc ký hậu trên các giấy tờ có giá nhƣ hối phiếu, lệnh phiếu, giấy nhận nợ (trong trƣờng hợp giấy tờ có giá quy định phải có sự bảo lãnh của Ngân hàng); nội dung văn bản bảo lãnh phải thể hiện đƣợc sự cam kết của Ngân hàng đối với bên nhận bảo lãnh. - Khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho bên bảo lãnh số tiền đã trả thay. 8 - Đặc trƣng này phản ánh một quan hệ ràng buộc giữa ba bên là bên bảo lãnh, bên đƣợc bảo lãnh và bên thụ hƣởng bảo lãnh.
Trƣờng hợp bên đƣợc bảo lãnh không thực hiện các nghĩa vụ đối với bên thụ hƣởng thì bên bảo lãnh thực hiện thay và bên đƣợc bảo lãnh phải có trách nhiệm nhận nợ và hoàn trả lại cho bên bảo lãnh số tiền bên bảo lãnh đã trả thay. Nhƣ vậy, lúc này quan hệ bảo lãnh đã chuyển thành quan hệ tín dụng trực tiếp giữa bên bảo lãnh và bên đƣợc bảo lãnh. - Tính độc lập tƣơng đối trong nhiệm vụ bảo lãnh Nghiệp vụ bảo lãnh độc lập tƣơng đối với hợp đồng chính. Mục đích của bảo lãnh ngân hàng là bồi hoàn cho ngƣời thụ hƣởng những thiệt hại từ việc không thực hiện các nghĩa vụ trong hợp đồng của ngƣời đƣợc bảo lãnh nhƣng nó vẫn có một sự độc lập tƣơng đối với hợp đồng chính.
Việc thanh toán bảo lãnh chỉ hoàn toàn căn cứ vào các điều khoản và điều kiện ghi trong cam kết bảo lãnh của Ngân hàng mà không căn cứ vào những quyền kháng nghị phát sinh trong hợp đồng chính. Tính độc lập của bảo lãnh phụ thuộc và chính các điều kiện của bảo lãnh. Nếu bảo lãnh quy định việc thanh toán là theo văn bản yêu cầu của ngƣời thụ hƣởng thì ngƣời thụ hƣởng có quyền lập yêu cầu thanh toán mà không cần thiết phải chứng minh việc vi phạm của ngƣời đƣợc bảo lãnh. Ngƣợc lại, nếu cam kết bảo lãnh yêu cầu phải kèm chứng từ (nhƣ Thƣ tín dụng) thì ngƣời thụ hƣởng phải xuất trình đầy đủ bộ chứng từ theo quy định đến ngân hàng phát hành thì mới nhận đƣợc khoản thanh toán.
Trong cả hai trƣờng hợp nêu trên ngân hàng bảo lãnh không cần căn cứ và xem xét lại nội dung của hợp đồng chính (hợp đồng kinh tế). Tính độc lập của bảo lãnh còn thể hiện ở chỗ ngân hàng phát hành bảo lãnh không thể viện dẫn các lý do thuộc về quan hệ của họ với khách hàng để 9 trì hoãn việc thanh toán cho bên thụ hƣởng nếu các điều kiện của bảo lãnh đƣợc đáp ứng đầy đủ.3 Phí bảo lãnh Phí bảo lãnh chính là chi phí mà Bên đƣợc bảo lãnh phải trả cho Ngân hàng do đƣợc hƣởng dịch vụ này. Phí bảo lãnh phải đảm bảo bù đắp đƣợc các chi phí mà Ngân hàng bỏ ra, có tính đến sự rủi ro mà Ngân hàng phát hành phải gánh chịu. Xét dƣới góc độ một sản phẩm dịch vụ thì phí bảo lãnh chính là giá cả của dịch vụ đó.
Phí bảo lãnh có thể tính bằng số tuyệt đối hoặc trên cơ sở tỷ lệ phí. Số tiền bảo lãnh*Tỷ lệ phí*Thời gian bảo lãnh Phí bảo lãnh = 360 Phí bảo lãnh đƣợc tính vào phí dịch vụ của Ngân hàng và đóng góp trực tiếp vào lợi nhuận của Ngân hàng 1.4 Quyền và nghĩa vụ của các bên trong bảo lãnh ngân hàng 1.1 Quyền và nghĩa vụ của bên bảo lãnh Theo điều 27 của thông tƣ số 07/2015/TT-NHNN ngày 26/5/2015, bên bảo lãnh có quyền: - Chấp thuận hoặc từ chối đề nghị cấp bảo lãnh - Đề nghị bên xác nhận bảo lãnh thực hiện xác nhận bảo lãnh đối với khoản bảo lãnh của mình cho bên đƣợc bảo lãnh - Yêu cầu bên đƣợc bảo lãnh hoặc bên bảo lãnh đối ứng và các bên liên quan cung cấp các tài liệu, thông tin có liên quan đến việc thẩm định bảo lãnh và tài sản bảo đảm - Yêu cầu bên đƣợc bảo lãnh hoặc bên bảo lãnh đối ứng có các biện pháp bảo đảm cho nghĩa vụ đƣợc tổ chức tín dụng bảo lãnh 10 - Thực hiện kiểm tra, giám sát tình hình tài chính của khách hàng trong thời hạn hiệu lực của bảo lãnh - Thu phí bảo lãnh, điều chỉnh phí bảo lãnh, áp dụng điều chỉnh lãi suất, lãi suất phạt - Từ chối thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh khi cam kết bảo lãnh hết hiệu lực hoặc hồ sơ yêu cầu thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh không đáp ứng đủ các điều kiện quy định trong cam kết bảo lãnh, hoặc có bằng chứng chứng minh chứng từ xuất trình là giả mạo. - Yêu cầu bên bảo lãnh đối ứng thực hiện nghĩa vụ đã cam kết.