CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VỐN LƯU ĐỘNG VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN LƯU ĐỘNG 1. Khái niệm và đặc điểm vốn lưu động Thuật ngữ vốn lưu động bắt nguồn từ người Mỹ bán hàng rong cổ xưa, những người bốc hàng lên xe ngựa và sau đó đi bán rong hàng này. Hàng hóa được gọi là “vốn lưu động” vì chủ nhân thực sự muốn bán nó hoặc quay vòng để tạo ra lợi nhuận. Cái xe và con ngựa là tài sản cố định.
Người này thường sở hữu con ngựa và cái xe, vì vậy họ được tài trợ với “vốn chủ sở hữu”, nhưng họ mua hàng hóa bằng thiếu nợ (khoản vay từ người bán) hoặc tiền vay ngân hàng. Những khoản vay này được gọi là cho vay vốn lưu động và họ sẽ phải hoàn trả sau mỗi hành trình để chứng minh với người cho vay rằng khoản tín dụng có thể trả được. Mỗi lần người bán hàng hoàn trả nợ vay, người này có thể nhận được một khoản vay khác, và những người cho vay theo quy trình này được đề cập đến “thông lệ cho vay đúng đắn”. Dĩ nhiên, người bán hàng càng có nhiều chuyến hàng mỗi năm, vòng quay vốn lưu động của người này càng nhanh và lợi nhuận sẽ càng lớn.
Về mặt khái niệm, vốn lưu động bao gồm cả nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Xét về mặt tổng thể, vốn lưu động là một bộ phận của vốn sản xuất kinh doanh, được biểu hiện bằng giá trị của tài sản lưu động bao gồm tiền mặt, đầu tư chứng khoán ngắn hạn, các khoản phải thu, dự trữ tồn kho và các tài sản có khả năng chuyển đổi thành tiền trong vòng một năm trở lại mà không làm gián đoạn hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Xét ở góc độ hẹp hơn, vốn lưu động còn được hiểu là phần chênh lệch giữa tài sản lưu động và nợ ngắn hạn (vốn lưu động ròng) tại một thời điểm nào đó trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Do đó, vốn lưu động còn được sử dụng làm thước đo đo lường khả năng thanh toán nợ ngắn hạn của doanh nghiệp.
Là một bộ phận cấu thành nên nguồn lực tài chính của doanh nghiệp, 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Create PDF files without this message by purchasing novaPDF printer (http://www.com) vốn lưu động không chỉ ảnh hưởng đến chi phí sử dụng vốn của doanh nghiệp, mà còn trực tiếp ảnh hưởng đến sự thành bại của chủ thể kinh doanh. Khác với tài sản cố định, tài sản lưu động chuyển toàn bộ giá trị của chúng vào giá trị của hàng hóa và được hoàn lại toàn bộ sau một chu kỳ sản xuất kinh doanh – chu kỳ luân chuyển vốn lưu động – chu kỳ luân chuyển tiền mặt. Quản trị vốn lưu động Rất nhiều công trình nghiên cứu ở các nước phát triển cho thấy do yếu kém trong quản trị vốn lưu động, nhiều doanh nghiệp đã lâm vào bờ vực phá sản. Chẳng hạn, vào tháng 10/1975, doanh nghiệp bán lẻ lớn nhất thời bấy giờ của Mỹ W.Grant đã tuyên bố phá sản, và sự kiện này đã trở thành ví dụ “kinh điển” về sự thất bại trong việc quản trị vốn lưu động.
Và năm 1994, nhà bán lẻ lớn nhất thế giới Wal-mart và Kmart đều cùng một cơ cấu vốn lưu động như nhau; tuy nhiên, tốc độ vòng quay tiền mặt của Kmart là 61 ngày, còn Wal-mart chỉ có 40 ngày. Sự chênh lệch về tốc độ vòng quay tiền mặt này đã làm cho Kmart mỗi năm phải tiêu tốn thêm 200 triệu đô la Mỹ về chi phí vốn; những yếu kém trong khâu quản trị vốn lưu động không ngừng gia tăng áp lực tài chính cho Kmart, dẫn đến vụ phá sản mang tính lịch sử trong ngành bán lẻ.[14] Vào năm 2003, Kmart, doanh nghiệp bán lẻ đứng hai trên thế giới và đã có hàng trăm năm lịch sử ở Mỹ, do không đủ tiền mặt để chi trả một tuần tiền hàng mua chịu cho nhà cung ứng thực phẩm lớn nhất của mình là Fleming Companies và doanh nghiệp này đã quyết định tạm thời không bán hàng cho Kmart. Quyết định này đã trở thành “tấm gương” cho nhiều nhà cung ứng khác và cuối cùng dẫn đến việc Kmart phải nộp đơn xin bảo hộ phá sản. Một ví dụ khác, đó là công ty kinh doanh các mặt hàng kim loại Ferro China của Trung Quốc, doanh nghiệp này có trụ sở chính ở Tô Châu và niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Singapore.
Năm 2007, doanh thu của công ty đạt 11.3 tỷ nhân dân tệ và lợi nhuận sau thuế là 400 triệu nhân dân tệ. Tuy nhiên, vào ngày 08/10/2008, 5 công ty con của Ferro China đã tuyên bố phá sản, và ngày hôm sau, đến lượt Ferro China đã ra thông cáo như sau: do chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính, Ferro China không có khả năng chi trả 700 triệu nợ phải trả sắp đến 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Create PDF files without this message by purchasing novaPDF printer (http://www.com) ngày đáo hạn cho nhà cung ứng. Từ ngày 10/10/2008, cổ phiếu của công ty tạm ngưng giao dịch trên thị trường chứng khoán Singapore. Chúng ta đã chứng kiến nhiều công ty bị lâm vào tình trạng kiệt quệ tài chính do những lỗ hổng trong khâu quản trị vốn lưu động; ở góc độ nhà quản lý, nghiên cứu mối quan hệ giữa cấu trúc vốn lưu động và kết quả kinh doanh cho phép nhà quản trị có cái nhìn khách quan hơn về năng lực quản trị vốn lưu động của họ.
Trong điều kiện kinh tế thị trường hiện tại, từ thị trường hàng hóa cho đến thị trường tài chính, ngày càng xuất hiện nhiều sự cạnh tranh gay gắt. Và trong một môi trường kinh tế luôn biến động không ngừng, năng lực quản trị vốn lưu động có ảnh hưởng nhất định đến khả năng sinh lời của doanh nghiệp. Trong cơ cấu tài sản của bất kỳ một doanh nghiệp nói chung, phần tài sản cố định thường khá ổn định, tốc độ quay vòng tương đối chậm và vì vậy việc quản lý các tài sản này trở nên dễ dàng hơn. Trong khi chiến lược quản trị vốn lưu động đòi hỏi phải không ngừng thay đổi và điều tiết cho phù hợp với tình hình sản xuất kinh doanh thực tế của công ty.
Chẳng hạn, việc duy trì một lượng tiền mặt tối ưu tại một thời điểm nhất định trong chu kỳ sản xuất kinh doanh đòi hỏi phải đồng thời xem xét cả ba khía cạnh: tình hình tiêu thụ sản phẩm, năng lực tài chính và chi phí sử dụng vốn của doanh nghiệp. Những năm gần đây, cùng với sự phát triển vượt bậc của nền kinh tế, các cấp quản lý ngày càng ý thức được tầm quan trọng của việc quản trị hiệu quả vốn lưu động đối với sự thành công của doanh nghiệp trong quá trình theo đuổi các mục tiêu tài chính; và vì vậy, vai trò của quản trị vốn lưu động ngày càng thu hút được sự quan tâm nhiều hơn của các nhà quản trị cấp cao. Tiêu biểu là công ty máy tính Dell và nhà bán lẻ lớn nhất thế thới Wal-mart đều xem năng lực quản trị vốn lưu động của họ như một trong những ưu thế kinh doanh của mình và ưu thế này ngày càng được cũng cố thêm. [22] Bên cạnh đó, nhằm nêu bậc vai trò trọng yếu của quản trị vốn lưu động, bắt đầu từ năm 1997, hàng năm, công ty tư vấn quản lý REL của Mỹ đã phối hợp với tạp chí CFO của Anh tiến hành điều tra tình hình sử dụng vốn lưu động của 1,000 công ty lớn nhất ở Châu Âu.
Trong đó đặc biệt chú trọng đến bốn chỉ tiêu như chu kỳ chu chuyển tiền mặt, tốc độ vòng quay hàng tồn kho, hệ số thanh toán và 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Create PDF files without this message by purchasing novaPDF printer (http://www.com) chu kỳ của các khoản phải thu để tiến hành xếp hạng năng lực quản trị vốn lưu động của các doanh nghiệp. Nhiều năm qua, về phương diện học thuật, các nghiên cứu về quản trị vốn lưu động và đặc biệt là các nghiên cứu về mối quan hệ giữa quản trị vốn lưu động và kết quả kinh doanh chưa nhận được sự quan tâm đúng mức của các nhà nghiên cứu. Từ khi lý thuyết MM ra đời và qua đó chứng minh mối quan hệ giữa cơ cấu vốn và giá trị của doanh nghiệp, các nghiên cứu trong lĩnh vực quản trị tài chính phần lớn đều tập trung vào khía cạnh quản trị nguồn vốn dài hạn của doanh nghiệp. Tuy nhiên, thời gian gần đây, các nghiên cứu về quản trị vốn lưu động không ngừng gia tăng, điều này chứng tỏ các nhà nghiên cứu ngày càng ý thức rõ hơn vai trò của quản trị vốn lưu động đối với sự phát triển của doanh nghiệp.
CÁC NGHIÊN CỨU VỀ QUẢN TRỊ VỐN LƯU ĐỘNG 1. Các nghiên cứu liên quan đến chỉ số đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động Quản trị vốn lưu động bao gồm việc tìm ra mức độ tối ưu cho tiền mặt, chứng khoán khả nhượng, các khoản phải thu, hàng tồn kho và sau đó tài trợ cho những tài sản bằng cách ít tốn chi phí nhất. Hay nói cách khác, mục đích của việc quản trị vốn lưu động là để đạt được sự cân bằng giữa chi phí, tiền mặt và hàng tồn kho, (Arnold, 2008) [8]. Christopher Pike & Richard Pass (1987) [20] đã lập luận rằng việc lập kế hoạch và kiểm soát vốn lưu động không chặt chẽ là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến sự thất bại trong kinh doanh.
Phần lớn các nghiên cứu về quản trị vốn lưu động trước đây chủ yếu tập trung đánh giá các chỉ số liên quan đến chu kỳ luân chuyển tài sản lưu động của doanh nghiệp và các chỉ số thành phần của từng loại tài sản này. Các chỉ số thường được sử dụng bao gồm chu kỳ các khoản phải thu, tốc độ quay vòng hàng tồn kho… Tuy nhiên, các chỉ số này chỉ tập trung xem xét và đánh giá năng lực quản lý tài sản lưu động và chưa đi sâu tìm hiểu các khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp, đồng thời chưa xem xét một cách đầy đủ và toàn diện mối quan hệ nội tại của các thành phần cấu 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Create PDF files without this message by purchasing novaPDF printer (http://www.com) thành nên tài sản lưu động. Vì vậy, rất khó đánh giá chính xác mức độ ảnh hưởng của hàng tồn kho, các khoản phải thu và các khoản nợ ngắn hạn đối với tổng thể vốn lưu động của doanh nghiệp, cũng như sự ảnh hưởng của quản trị vốn lưu động đối với kết quả kinh doanh.