Nghiên cứu các giải pháp sản xuất sạch hơn áp dụng trong sản xuất giấy

Tài liệu nghiên cứu Khoá luận tốt nghiệp nghiên cứu các giải pháp sản xuất sạch hơn áp dụng trong sản xuất giấy, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên sâu về .

Trường đại học

Đại học Dân lập Hải Phòng

Chuyên ngành

Môi trường

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2019

58
7
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về ngành sản xuất giấy và các vấn đề môi trường

Chương này cung cấp cái nhìn tổng quan về lịch sử hình thành và phát triển của ngành sản xuất giấy, từ quy trình thủ công đến công nghệ hiện đại. Tại Việt Nam, ngành giấy đã có những bước tiến đáng kể nhưng vẫn đối mặt với nhiều thách thức như công nghệ lạc hậu, ô nhiễm môi trường và thiếu nguyên liệu. Quy trình sản xuất giấy được phân tích chi tiết, bao gồm các công đoạn từ chuẩn bị nguyên liệu, nấu bột, rửa, sàng, tẩy trắng đến xeo giấy. Các vấn đề môi trường phát sinh từ quy trình này cũng được đề cập, đặc biệt là lượng nước thải, khí thải và chất thải rắn có nguy cơ gây ô nhiễm nghiêm trọng.

1.1 Lịch sử và hiện trạng ngành sản xuất giấy

Ngành sản xuất giấy có lịch sử lâu đời, bắt đầu từ việc sử dụng nguyên liệu thô như tre, gỗ và giấy tái chế. Tại Việt Nam, ngành giấy đã phát triển từ thế kỷ XIII với các làng nghề truyền thống như Yên Thái. Hiện nay, ngành giấy Việt Nam đạt tốc độ tăng trưởng cao nhưng vẫn phụ thuộc nhiều vào nhập khẩu nguyên liệu và công nghệ. Công nghệ sản xuất giấy hiện đại đòi hỏi sử dụng nhiều nước, năng lượng và hóa chất, dẫn đến lượng chất thải lớn, đặc biệt là nước thải có hàm lượng ô nhiễm cao.

1.2 Quy trình sản xuất giấy và tác động môi trường

Quy trình sản xuất giấy bao gồm các bước chính: chuẩn bị nguyên liệu, nấu bột, rửa, sàng, tẩy trắng và xeo giấy. Mỗi công đoạn đều phát sinh chất thải, đặc biệt là nước thải chứa hóa chất và chất rắn lơ lửng. Khí thải từ quá trình đốt nhiên liệu và chất thải rắn từ nguyên liệu thô cũng gây ô nhiễm không khí và đất. Việc quản lý và xử lý chất thải chưa hiệu quả là nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng ô nhiễm môi trường tại các cơ sở sản xuất giấy.

II. Tổng quan về sản xuất sạch hơn

Chương này giới thiệu khái niệm và lợi ích của sản xuất sạch hơn (SXSH) trong ngành công nghiệp. SXSH không chỉ giúp giảm thiểu ô nhiễm mà còn tiết kiệm nguyên liệu, năng lượng và chi phí sản xuất. Các kỹ thuật SXSH như tối ưu hóa quy trình, tái sử dụng nước và nguyên liệu, sử dụng công nghệ xanh được phân tích chi tiết. Tình hình áp dụng SXSH trên thế giới và tại Việt Nam cũng được đánh giá, cho thấy tiềm năng lớn trong việc áp dụng các giải pháp này vào ngành sản xuất giấy.

2.1 Khái niệm và lợi ích của sản xuất sạch hơn

Sản xuất sạch hơn là một chiến lược nhằm giảm thiểu tác động môi trường thông qua việc tối ưu hóa quy trình sản xuất, sử dụng hiệu quả nguyên liệu và năng lượng. Các lợi ích của SXSH bao gồm giảm chi phí sản xuất, nâng cao hiệu quả kinh tế và bảo vệ môi trường. Việc áp dụng SXSH cũng giúp doanh nghiệp tuân thủ các quy định pháp luật về môi trường và nâng cao hình ảnh thương hiệu.

2.2 Kỹ thuật và tình hình áp dụng SXSH

Các kỹ thuật sản xuất sạch hơn bao gồm tối ưu hóa quy trình, tái sử dụng nước và nguyên liệu, sử dụng công nghệ tiên tiến và giảm thiểu chất thải. Tại Việt Nam, mặc dù tiềm năng áp dụng SXSH lớn, nhưng nhiều doanh nghiệp vẫn chưa quan tâm đúng mức do thiếu nhận thức và nguồn lực. Các giải pháp SXSH cần được triển khai đồng bộ từ quy trình sản xuất đến quản lý chất thải để đạt hiệu quả tối đa.

III. Khả năng áp dụng giải pháp sản xuất sạch hơn trong ngành sản xuất giấy

Chương này tập trung phân tích khả năng áp dụng các giải pháp sản xuất sạch hơn vào ngành sản xuất giấy tại Việt Nam. Thông qua nghiên cứu thực tế tại nhà máy giấy Bắc Hải, các nguồn thải và nguyên nhân gây lãng phí nguyên liệu, năng lượng được xác định. Các giải pháp SXSH được đề xuất bao gồm tối ưu hóa quy trình, sử dụng công nghệ tiết kiệm năng lượng, tái sử dụng nước và nguyên liệu. Hiệu quả của các giải pháp này được đánh giá thông qua việc giảm thiểu chất thải và tiết kiệm chi phí sản xuất.

3.1 Hiện trạng và nguyên nhân gây lãng phí trong sản xuất giấy

Nghiên cứu tại nhà máy giấy Bắc Hải cho thấy, các nguyên nhân chính gây lãng phí nguyên liệu và năng lượng bao gồm quy trình sản xuất chưa tối ưu, thiết bị lạc hậu và quản lý chất thải kém hiệu quả. Quy trình sản xuất giấy hiện tại tiêu tốn nhiều nước và năng lượng, đồng thời phát sinh lượng lớn chất thải. Việc xác định các nguồn thải và nguyên nhân gây lãng phí là bước đầu tiên trong việc áp dụng các giải pháp SXSH.

3.2 Đề xuất và hiệu quả của các giải pháp SXSH

Các giải pháp sản xuất sạch hơn được đề xuất bao gồm tối ưu hóa quy trình sản xuất, sử dụng công nghệ tiết kiệm năng lượng, tái sử dụng nước và nguyên liệu. Việc áp dụng các giải pháp này giúp giảm thiểu chất thải, tiết kiệm chi phí sản xuất và nâng cao hiệu quả kinh tế. Kết quả nghiên cứu cho thấy, các giải pháp SXSH có tiềm năng lớn trong việc cải thiện hiệu quả sản xuất và bảo vệ môi trường tại các cơ sở sản xuất giấy.

12/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ SẢN XUẤT GIẤY VÀ CÁC VẤN ĐỀ MÔI TRƯỜNG 1. Lịch sử hình thành và phát triển của ngành công nghiệp sản xuất giấy  Thế giới Trước khi phát minh ra giấy, con người đã ghi chép lại các văn kiện là các hình vẽ trong các hang động hoặc khắc lên các tấm bia bằng đất sét, và sau đó nữa là người ta dùng da để lưu trữ các văn kiện. Da, giấy da, gỗ, vỏ cây, giấy cói (giấy chỉ thảo) – có ở Ai Cập khoảng 3000 năm trước Công nguyên – và giấy đều có thể cháy và bị phân hủy sinh học.1 Cây Papyrus Hình 1.2 Sách viết trên Giấy Cói Giấy cói ( giấy chỉ thảo) làm bằng một loại lau sậy ( cây cói giấy hay cây chỉ thảo) được buộc với nhau và đặt chéo lên nhau trước khi được ép lại. Một loại nguyên liệu khác là cây thụy hương.

Là 1 loại cây gai dầu và thụy hương có sợi dài hơn những loại gỗ được sử dụng ngày nay và qua đó mà cũng có độ bền cao. Các nguyên liệu và công đoạn sản xuất còn thô sơ và thủ công: nguyên liệu làm giấy được cắt vụn ra và giã nhỏ trong nước thành bột lỏng. Các sợ được phân tán mỏng trong nước. Đầu tiên giấy được múc ra bằng một cái rây nổi trên mặt nước.

Lưới ở dưới đáy rây được gắn chặt vào khung. Mỗi tờ giấy được múc ra phải được làm khô trong rây và chỉ được đem ra sau khi khô. Vào khoảng năm 600 kỹ thuật múc giấy cải tiến dùng loại rây múc lan truyền đến Triều Tiên và sau đó đến Nhật. Ở loại rây múc này khung rây có thể gỡ ra khỏi rây.

Tờ giấy vừa được múc có thể được lấy ra khi còn ẩm và đem đi phơi khô. Kỹ thuật này còn được sử dụng cho đến ngày nay ở các loại giấy múc bằng tay và nói chung nguyên tắc sản xuất giấy (cắt vụn, giã nhỏ trong nước, múc và hong khô) vẫn không thay đổi cho đến ngày nay. SV: Phan Thị Nhung _MT1901 3 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP  Tại Việt Nam Vào đầu thế kỉ XIII có tài liệu ghi ở ngoại ô phía tây Thăng Long có một xóm chuyên làm nghề giấy. Cho đến thế kỷ XV, ở nước ta có thêm môt phường làm giấy khác xuất hiện ở làng bưởi nằm cạnh Hồ Tây.

Đó chính là phường giấy Yên Thái. Cho đến đầu thế kỉ XVIII nước ta đã có thể sản xuất nhiều loại sách bằng giấy nội hóa (giấy do người dân trong nước tự làm). Vào những năm 40 của thế kỷ các thợ thủ công ở vùng bưởi còn chế tạo được những loại giấy dó lụa và giấy nhung cho kinh thành Thăng Long để in các loại sách và tranh quý Tùy theo mục đích sử dụng khác nhau sản phâm giấy được chia thành 4 nhóm: • Nhóm 1: Giấy dùng cho in, viết (giấy in báo, giấy in và viết. • Nhóm 2: Giấy dùng trong công nghiệp (giấy bao bì, giấy chứa chất lỏng .) • Nhóm 3: Giấy dùng trong gia đình (giấy ăn, giấy vệ sinh.) • Nhóm 4: Giấy dùng cho văn phòng (giấy fax, giấy in hóa đơn.) Hiện nay ở Việt Nam chỉ sản xuất được các loại sản phẩm như giấy in, giấy in báo, giấy bao bì công nghiệp thông thường, giấy vàng mã, giấy vệ sinh chất lượng thấp, giấy tissue chất lượng trung bình.

còn các loại giấy và các tông kỹ thuật như giấy kỹ thuật điện-điện tử, giấy sản xuất thuốc lá, giấy in tiền, giấy in tài liệu bảo mật vẫn chưa sản xuất được. HIỆN TRẠNG SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ GIẤY Ở VIỆT NAM 1. Tình hình sản xuất giấy ở Việt Nam Hiện nay có nhiều loại giấy: giấy tốt in những loại ấn phẩm đặc biệt, giấy in viết bình thường, giấy gói, giấy sinh hoạt. Trung bình những năm qua, nước ta nhập khoảng trên dưới 100 ngàn tấn giấy các loại mỗi năm.

Tính về sản lượng giấy sản xuất trong nước thì Việt Nam mỗi năm tiêu thụ gần 300 ngàn tấn, tính theo đầu người đạt xấp xỉ 4kg/năm. Đây là chỉ số rất quan trọng trong việc đánh giá mức độ phát triển văn hóa. Theo chỉ số này Việt Nam đứng cuối cùng trong khu vực và thuộc loại thấp nhất thế giới. Ngành sản xuất giấy Việt Nam sử dụng hai loại nguyên liệu chủ yếu là tre nứa và gỗ lá rộng mọc nhanh (bồ đề, mỡ, keo, bạch đàn, khuynh diệp).

Một vài cơ sở sử dụng bã mía nhưng không đáng kể. Để sản xuất khoảng 130150 ngàn tấn bột giấy một năm như hiện nay, ngành giấy sử dụng khoảng 700 ngàn tấn nguyên liệu quy chuẩn (độ ẩm 50%). Nếu tính sinh khối rừng nguyên liệu tăng SV: Phan Thị Nhung _MT1901 4 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP trưởng mỗi năm khoảng 12÷15 tấn/ha và sản lượng rừng nguyên liệu giấy đến kỳ khai thác của Việt Nam dưới 100 tấn/ha, thì diện tích rừng bị khai thác cho ngành giấy không phải nhỏ. Ngành giấy Việt Nam năm 2018, trên phương diện cả bốn yếu tố đều có sự tăng trưởng mạnh so với năm 2017, thiết lập mức tăng trưởng cao nhất trong lịch sử ngành giấy Việt Nam.

Tiêu dùng các loại giấy đạt sản lượng 4,946 triệu tấn, tăng trưởng 16,0%; sản xuất đạt sản lượng 3,674 triệu tấn, tăng trưởng 31,0%; xuất khẩu đạt 809.250 tấn, tăng trưởng 63,0%; nhập khẩu đạt 2,081 triệu tấn, tăng trưởng 6,0%. Bên cạnh kết quả to lớn đạt được, nền kinh tế vẫn còn nhiều tồn tại, hạn chế, bất cập cần tập trung khắc phục trong thời gian tới. Năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức mạnh cạnh tranh còn thấp; sức chống chịu của nền kinh tế trước những biến động bên ngoài còn chưa cao. Mô hình tăng trưởng chuyển đổi còn chậm; các nguồn lực chưa được giải phóng tối đa; việc cơ cấu lại nhiều ngành, lĩnh vực còn chậm.

Sản xuất kinh doanh trong một số lĩnh vực và hoạt động của các doanh nghiệp nhỏ và vừa vẫn còn nhiều khó khăn. Môi trường đầu tư kinh doanh vẫn còn những bất cập; thủ tục hành chính có lĩnh vực rườm rà; kỷ luật kỷ cương nhiều nơi chưa nghiêm. Thêm vào đó, ngành giấy Việt Nam còn chịu sự cạnh tranh của rất mạnh của các nước trong khu vực như Thái Lan, Indonesia, Malaysia và cả Ấn Độ. Đặc biệt là các doanh nghiệp trong nước bị các doanh nghiệp Trung Quốc tranh mua nguyên liệu và giấy thành phẩm.

Ngoài ra, nhu cầu sử dụng các loại bao bì cũng tăng lên do hoạt động sản xuất của các ngành hàng phát triển đã tạo cơ hội cho ngành giấy catton “ăn nên làm ra”. Theo đánh giá của Hiệp hội Bao bì Việt Nam, ngành sản xuất bao bì trong nước tăng trưởng mạnh trong 10 năm trở lại đây.Nhu cầu tiêu thụ giấy ở Việt Nam Về cơ cấu tiêu dùng, giấy bao bì chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng cầu về giấy của Việt Nam và có tốc độ tang trưởng tương đối cao. Giấy bao bì chủ yếu phục vụ cho ngành công nghiệp đặc biệt là sản xuất xi măng đang tăng trưởng mạnh tại Việt Nam. Nhu cầu về giấy làm bao xi măng tăng 10% , nhu cầu về bao bì tăng 15,8%.

Giấy in viết chiếm tỉ trọng 20,2% trong tổng nhu cầu giấy và đạt tốc độ tăng trưởng là 8,3%. SV: Phan Thị Nhung _MT1901 5 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP Bảng 1.1 Tình hình sản xuất, tiêu thụ, xuất nhập khẩu các sản phẩm giấy tại Việt Nam 2018 Khả năng sản xuất Sản Năng Sản Nhập Xuất Tiêu dùng đáp ứng phẩm Lực xuất khẩu khẩu tiêu dùng nội địa Giấy in 58.000 60% viết Giấy làm 830.707 Nguồn: Tạp chí công nghệ giấy tháng 12/2018 Khả năng sản xuất các sản phẩm giấy các loại chỉ đáp ứng một phần nhu cầu nội địa. Giấy in báo đáp ứng 60%, giấy in viết đáp ứng 50% …chỉ có giấy vàng mã đáp ứng đủ nhu cầu nội địa.2 Nhu cầu tiêu thụ bột giấy và giấy của Việt Nam trong Đông Nam Á Tiêu thụ giấy Tiêu thụ bột giấy Kg Tên nước 1.000 % giấy/ người/năm Malayxia 4.589 14,1 38,4 Việt Nam 600 3,3 540 3,8 4 Inđonêxia 5.953 100 164,4 (Nguồn: Tạp chí công nghiệp giấy tháng 12 năm 2018) SV: Phan Thị Nhung _MT1901 6 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP Nhu cầu tiêu thụ giấy của Việt Nam trong khu vực rất thấp, chỉ đứng thứ 5 trên Mianma do trình độ sản xuất, công nghệ lạc hậu. Tiêu thụ giấy đạt 3,3%, tiêu thụ bột giấy đạt 3,8% tốc độ tiêu thụ cao hơn mức độ sản xuất 1 lần.

QUY TRÌNH CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT GIẤY Hiện nay, có rất nhiều công nghệ sản xuất giấy và bột giấy, tùy theo từng loại nguyên liệu, loại sản phẩm sẽ có nhiều công nghệ sản xuất khác nhau. SV: Phan Thị Nhung _MT1901 7 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP Nguyên liệu thô(tre, nứa, gỗ.) Nước rửa Gia công nguyên liệu thô Nước thải chứa tạp chất Dung dịch kiềm tuần hoàn Hóa chất nấu Nước ngưng Nấu Nước Dịch đen Nước rửa Rửa Cô đặc - đốt – xút hóa Nước ngưng Tẩy trắng Nước thải có độ màu, Hóa chất tẩy COD5, BOD cao Nước thải có SS, Nghiền bột BOD5, Chất độn, phụ gia COD cao Phèn Dầu Nước Xeo giấy Nước thải có SS, BOD5, COD cao Hơi nước Sấy, cắt Hơi nước cuộn Nước ngưng Sản phẩm Hình 1.3: Sơ đồ quy trình công nghệ sản xuất giấy SV: Phan Thị Nhung _MT1901 8 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP 1.1 Chuẩn bị nguyên liệu thô. Nguyên liệu thô được sử dụng là tre, các loại gỗ mềm khác, giấy phế liệu hoặc tái chế…Trường hợp là gỗ thì sau khi đã cân trọng lượng gỗ xếp đống trong sân chứa và sau đó được mang đi cắt thành mảnh. Với loại tre mỏng thì dùng máy cắt mảnh 3 lưỡi, còn với loại gỗ/tre dày hơn thì dùng máy cắt đũa dao 6 lưỡi.

Kích cỡ của mảnh tạo ra từ 15 các mảnh quá to và quá nhỏ sẽ được loại ra. Mảnh có kích cỡ phù hợp sẽ chuyển đến khu vực sản xuất bột giấy. Khi sử dụng nguyên liệu thô như giấy thải, thì giấy thải sẽ được sàng lọc để tách các loại tạp chất này sẽ được thải ra như chất thải rắn và phần nguyên liệu còn lại sẽ được chuyển đến công đoạn sản xuất bột giấy.2 Sản xuất bột giấy - Nấu: Gỗ thường gồm 50% xơ, 20 – 30% đường không chứa xơ, và 20- 30% lignin. Lignin là một hợp chất hóa học liên kết các xơ với nhau.

Các xơ được tách ra khỏi lignin bằng cách nấu với hóa chất ở nhiệt độ và áp suất cao trong nồi nấu. Quá trình nấu được sử dụng khoảng 10 – 14% của nguyên liệu thô. Một mẻ nấu được hoàn tất sau khoảng 8h và trong khoảng thời gian đó các loại khí được xả ra khỏi nồi nấu. Trong quá trình nấu phải duy trì tỷ lệ rắn/lỏng nằm trong khoảng 1:3 đến 1:4.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Giải pháp sản xuất sạch hơn trong ngành sản xuất giấy - Khoá luận tốt nghiệp là một nghiên cứu chuyên sâu về các phương pháp giảm thiểu tác động môi trường trong quá trình sản xuất giấy. Bài viết tập trung vào việc áp dụng các công nghệ tiên tiến và quy trình quản lý hiệu quả để giảm thiểu chất thải, tiết kiệm năng lượng và tối ưu hóa sử dụng tài nguyên. Những giải pháp này không chỉ giúp doanh nghiệp tuân thủ các quy định môi trường mà còn nâng cao hiệu quả kinh tế và cạnh tranh trên thị trường. Để hiểu rõ hơn về các vấn đề liên quan đến chất lượng nước thải trong ngành giấy, bạn có thể tham khảo Khoá luận tốt nghiệp đại học đánh giá diễn biến chất lượng nước thải bột giấy của công ty cổ phần giấy an hòa tỉnh tuyên quang trong quý iv năm 2017. Ngoài ra, nếu quan tâm đến các giải pháp tận dụng nhiệt thải, Luận văn thạc sĩ hcmute ứng dụng cae trong thiết kế hệ thống tận dụng nhiệt thải từ động cơ sẽ cung cấp thêm thông tin hữu ích. Để mở rộng kiến thức về tăng trưởng xanh trong ngành công nghiệp, Luận án tiến sĩ kinh tế xây dựng bộ tiêu chí đánh giá thực hiện tăng trưởng xanh ngành công nghiệp việt nam áp dụng cho các doanh nghiệp sản xuất xi măng là một tài liệu đáng tham khảo.