PHẦN MỞ ĐẦU i. Sự cần thiết của đề tài Tăng trưởng kinh tế góp phần giải quyết các vấn đề như giảm tỷ lệ thất nghiệp, xóa đói giảm nghèo và nâng cao đời sống con người. Tuy nhiên, tăng trưởng kinh tế dẫn tới việc khai thác cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên; ô nhiễm nguồn nước, không khí và môi trường sống ảnh hưởng tới sức khỏe con người và dẫn tới phát triển kinh tế không bền vững [1]. Đứng trước tình trạng đó, yêu cầu đặt ra đối với các bên liên quan cần giải quyết đồng thời về mặt lý luận và thực tiễn các vấn đề sau: (i) Khai thác tài nguyên thiên nhiên một cách có hiệu quả; (ii) Sử dụng năng lượng hiệu quả, tái tạo năng lượng; (iii) Nâng cao hiệu quả sản xuất thông qua việc sử dụng có hiệu quả yếu tố đầu vào; (iv) Bảo vệ môi trường tự nhiên và môi trường sống, khôi phục bảo tồn tài nguyên thiên nhiên.
Do đó, sự ra đời của tăng trưởng xanh (TTX) giúp các bên liên quan giải quyết đồng thời các vấn đề trên. TTX được hiểu là thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế đồng thời đảm bảo rằng các nguồn tài sản tự nhiên tiếp tục cung cấp các tài nguyên và dịch vụ môi trường thiết yếu cho cuộc sống của con người [2]. Khái niệm TTX lần đầu tiên xuất hiện trong Hội nghị Bộ trưởng lần thứ năm về môi trường và phát triển (MCED) được thực hiện bởi UNESCAP (Ủy ban Kinh tế Xã hội châu Á Thái Bình Dương) tại Hàn Quốc vào năm 2005. TTX là chiến lược, phương thức tăng trưởng kinh tế có chú trọng đến vấn đề khai thác tài nguyên và tác động đến môi trường.
Hiện nay, TTX đang nhận được sự quan tâm lớn từ các nhà nghiên cứu và những người làm chính sách coi TTX được coi là phương thức hiệu quả hướng tới phát triển bền vững [3]. Về cam kết quốc tế, Hội nghị quốc tế về khí hậu (Cop21-Paris năm 2015) thông qua thỏa thuận của 196 bên tham gia bắt buộc tất cả các nước cắt giảm lượng khí thải các bon với mục tiêu quan trọng nhất là giữ mức nhiệt độ tăng toàn cầu trong thế kỷ này dưới 2oC. Để làm sáng tỏ sự cần thiết của đề tài, luận án xem xét 4 khía cạnh sau: Thứ nhất, cơ sở pháp lý tăng trưởng xanh. Tại Việt Nam năm 2012, Thủ tướng chính phủ đã ban hành Quyết định số 1393/QĐ-TTg về Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh đề cập đến các nhiệm vụ cụ thể như: Giảm cường độ phát thải khí nhà kính và thúc đẩy sử dụng năng lượng sạch, năng lượng tái tạo; sử dụng tiết kiệm và hiệu quả i Luận án tiến sĩ Kinh tế tài nguyên, khuyến khích phát triển công nghiệp xanh [4].
Tiếp sau đó năm 2014, Thủ tướng chính phủ ra Quyết định số 403/QĐ-TTg về việc Phê duyệt kế hoạch hành động quốc gia về tăng trưởng xanh bao gồm các hoạt động: tổ chức thí điểm mô hình TTX; triển khai thực hiện một số mô hình TTX; cải thiện hiệu suất sử dụng năng lượng [5]. Đến năm 2017, Bộ Xây dựng ra Quyết định số 802/QĐ-BXD về Ban hành Kế hoạch hành động giảm nhẹ phát thải khí nhà kính trong công nghiệp xi măng với quan điểm phát triển ngành công nghiệp xi măng theo hướng TTX, tiết kiệm tài nguyên và năng lượng, bảo vệ môi trường [6]. Mục tiêu cụ thể, giảm 20 triệu tấn CO2 tương đương vào năm 2020 và 164 triệu tấn CO2 tương đương vào năm 2030. TTX tại Việt Nam đang được thực hiện đồng bộ ở các cấp.
Ở cấp địa phương, các Thành Phố/Tỉnh đã có kế hoạch triển khai thực hiện Chiến lược TTX của Thành phố/Tỉnh như Hà Nội [7], Hải Phòng [8], Thanh Hóa [9]. Ở cấp ngành và doanh nghiệp đặc biệt là trong các ngành công nghiệp, các Bộ ngành chủ quản ban hành chương trình hành động của Bộ theo hướng TTX đồng thời chỉ đạo tới các doanh nghiệp thực hiện sản xuất theo hướng TTX như QĐ965/QĐ-BTNMT [10], QĐ13443/QĐ-BCT [11], QĐ419/QĐ-BXD [12]. Tính đến năm 2019 đã có 7 Bộ và 34 Tỉnh/Thành Phố ban hành chương trình hành động [13]. Thứ hai, đánh giá thực hiện tăng trưởng xanh.
Thực tế cho thấy để đo lường, đánh giá giám sát TTX thì cần thiết phải có công cụ đánh giá. Công cụ đánh giá TTX ở đây là bộ tiêu chí đánh giá TTX. Do đó, cần phải xây dựng bộ tiêu chí đánh giá TTX. Việc xây dựng bộ tiêu chí đánh giá TTX phù hợp với nội dung Quyết định số 1393/QĐ-TTg/2012, trong đó Thủ tướng chính phủ nêu rõ các Bộ, sở ngành và các địa phương cần “Nghiên cứu, ban hành hệ thống các chỉ số, tiêu chí, tiêu chuẩn, quy chuẩn về tăng trưởng xanh để quản trị trên phạm vi cả nước, ngành và địa phương”.
Thứ ba, phát thải của ngành công nghiệp xi măng. Các ngành công nghiệp là những ngành sử dụng nhiều tài nguyên, năng lượng và đóng góp lớn vào lượng phát thải khí nhà kính. Theo báo cáo đánh giá các biện pháp giảm nhẹ biến đổi khí hậu năm 2014 tại Berlin (Đức), lượng phát thải khí nhà kính từ nguồn cung cấp năng lượng chiếm 40%, công nghiệp chiếm khoảng 30% [14]. Tại Việt Nam năm 2014, Thủ tướng chính phủ đã phê duyệt Chiến lược phát triển công nghiệp Việt Nam đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2035 thông qua Quyết định 879/QĐ-TTg ngày 09/06/2014 với quan điểm phát triển công nghiệp trên cơ sở TTX, phát triển bền vững và bảo vệ môi trường và định hướng phát ii Luận án tiến sĩ Kinh tế triển thân thiện môi trường, công nghiệp xanh [15].
Trong những năm qua, ngành công nghiệp sản xuất Việt Nam đã có những bước phát triển ổn định góp phần phát triển đất nước. Sự phát triển mạnh mẽ về cơ sở hạ tầng, giao thông, đô thị và các công trình lớn giai đoạn vừa qua đòi hỏi ngành công nghiệp xi măng phát triển để đáp ứng nhu cầu về xây dựng. Tuy nhiên sự phát triển sự phát triển ngành xi măng cần tuân thủ Quyết định 1488/QĐ-TTg về phê duyệt quy hoạch phát triển ngành công nghiệp xi măng Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020 và định hướng đến năm 2030. Một trong các mục tiêu đó là phát triển ngành công nghiệp xi măng Việt Nam theo hướng tiết kiệm nguyên liệu, và tiêu hao năng lượng thấp; bảo vệ môi trường, cảnh quan thiên nhiên [16].
Việt Nam đứng thứ năm về sản lượng SXXM, việc phát triển ngành công nghiệp xi măng cần được chú trọng. Tuy nhiên, SXXM phát thải khí CO2, CO, NOx, SOx, bụi ảnh hưởng đến môi trường và dân cư địa phương. Lượng CO2 thải ra môi trường khi nung 1 tấn clinker khoảng gần 800 kg, bao gồm CO2 từ phân hủy đá vôi và từ đốt nhiên liệu than. Khối lượng bụi thải ra cũng rất lớn nếu không có hệ thống lọc bụi chất lượng cao [17].
Theo quy hoạch ngành xi măng thì năng lực sản xuất clinker và xi măng sẽ vẫn tiếp tục tăng, với mục tiêu khoảng 100 triệu tấn/năm vào 2020, tức là tăng tới gần 30% công suất so với năm 2015 [16]. Mặt khác, việc phát triển ngành công nghiệp xi măng dẫn tới sự suy giảm tài nguyên khoáng sản đất nước, tiêu thụ nhiều năng lượng (theo nghiên cứu của dự án NAMA Cement do Quỹ Phát triển Bắc Âu tài trợ thì tiêu thụ năng lượng của ngành xi măng chiếm 8% tổng tiêu thụ của tất cả các ngành công nghiệp, trong đó tiêu dùng điện năng chiếm xấp xỉ 50% lượng tiêu dùng năng lượng này), ảnh hưởng đến môi trường tự nhiên, sức khỏe người lao động và dân cư địa phương. Quá trình khai thác khoáng sản (đá vôi, quặng sắt, đất sét.) phục vụ cho SXXM ngày một nhiều dẫn tới ô nhiễm môi trường đặc biệt là khói bụi và lượng khí CO2 từ quá trình sản xuất gây ảnh hưởng lớn đến môi trường sống. Theo kết quả kiểm kê quốc gia khí nhà kính mới nhất, trong ngành xây dựng thì lượng phát thải tính theo CO2 tương đương thì ngành SXXM cũng đang đứng đầu với phát thải tổng cộng khoảng 36.6 triệu tấn CO2 tương đương từ việc đốt nhiên liệu để nung và lượng CO 2 thoát ra từ phản ứng hóa học khi nung [18].
Tóm lại, phát triển ngành xi măng là tốt cho việc phát triển chung của quốc gia nhưng vấn đề phát thải, suy giảm tài nguyên từ quá trình SXXM cũng cần phải được đặt lên hàng đầu. iii Luận án tiến sĩ Kinh tế Thứ tư, vấn đề về quản lý các doanh nghiệp sản xuất trong ngành xi măng. Thực tế cho thấy, các doanh nghiệp SXXM chưa thực sự chú trọng đến công tác bảo vệ môi trường. Nhiều nhà máy xi măng phát thải vượt ngưỡng cho phép các chất độc hại và khói bụi ra môi trường dẫn đến việc cơ quan chức năng có hình thức xử phạt, đình chỉ hoạt động điển hình như xi măng Phúc Sơn, Vạn Ninh, nhà máy sản xuất vật liệu xây dựng Tây Nguyên [17].
Mặt khác, Bộ Xây dựng đã ban hành Quyết định số 802/QĐ-BXD về định hướng phát triển ngành công nghiệp xi măng theo hướng TTX, tiết kiệm tài nguyên, bảo vệ môi trường với mục tiêu là giảm 20 triệu tấn CO 2 tương đương vào năm 2020 và 164 triệu tấn CO2 tương đương vào năm 2030 [6]. Đứng trên góc độ quản lý ngành xi măng là Bộ Xây dựng, cụ thể là Vụ Khoa học Công nghệ và Môi trường hay Vụ Vật liệu xây dựng trong việc quản lý các đơn vị xi măng thì việc đánh giá thực hiện TTX của các doanh nghiệp trong ngành công nghiệp xi măng là rất cần thiết về mặt pháp lý trong bối cảnh phát triển ngành công nghiệp xi măng theo hướng TTX. Việc đánh giá thực hiện TTX của các doanh nghiệp trong ngành xi măng theo hướng TTX chỉ có thể thực hiện thông qua bộ tiêu chí đánh giá TTX. Do đó, xây dựng bộ tiêu chí đánh giá thực hiện TTX của các doanh nghiệp trong ngành công nghiệp là rất thiết trong bối cảnh tài nguyên thiên nhiên bị khai thác cạn kiệt, phát thải ô nhiễm từ quá trình sản xuất nhận được sự quan tâm lớn từ cơ quan quản lý và các bên hữu quan.