Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ kinh tế với đề tài "Xây dựng bộ tiêu chí đánh giá thực hiện tăng trưởng xanh ngành công nghiệp Việt Nam: Áp dụng cho các doanh nghiệp sản xuất xi măng" do nghiên cứu sinh Nguyễn Ngọc Thía thực hiện tại Trường Đại học Bách khoa Hà Nội (năm 2019), dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Đặng Vũ Tùng và PGS.TS Lê Anh Tuấn, thuộc chuyên ngành Kinh tế học (mã số 9310101).
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Quá trình tăng trưởng kinh tế tạo ra những hệ quả tiêu cực đối với tài nguyên thiên nhiên và môi trường sống. Để hướng tới phát triển bền vững, các bên liên quan cần giải quyết đồng thời bốn yêu cầu: khai thác tài nguyên hiệu quả; sử dụng năng lượng hiệu quả và tái tạo năng lượng; nâng cao hiệu quả sản xuất thông qua tối ưu hóa yếu tố đầu vào; bảo vệ môi trường tự nhiên và bảo tồn tài nguyên. Tính cấp thiết của đề tài được luận án xác định qua bốn khía cạnh thực tiễn và pháp lý:
- Cơ sở pháp lý về tăng trưởng xanh (TTX): Chiến lược quốc gia về TTX theo Quyết định số 1393/QĐ-TTg (2012) và Kế hoạch hành động quốc gia về TTX theo Quyết định số 403/QĐ-TTg (2014) đặt ra nhiệm vụ giảm cường độ phát thải khí nhà kính, thúc đẩy sử dụng năng lượng sạch, xanh hóa sản xuất. Đối với ngành xi măng, Bộ Xây dựng đã ban hành Quyết định số 802/QĐ-BXD (2017) với mục tiêu cắt giảm 20 triệu tấn $\text{CO}_2$ tương đương vào năm 2020 và 164 triệu tấn $\text{CO}_2$ tương đương vào năm 2030. Tính đến năm 2019, đã có 7 Bộ và 34 Tỉnh/Thành phố ban hành chương trình hành động thực hiện TTX.
- Nhu cầu về công cụ đánh giá thực hiện TTX: Theo Quyết định số 1393/QĐ-TTg, việc nghiên cứu, ban hành hệ thống chỉ số, tiêu chí về TTX là cơ sở bắt buộc để phục vụ công tác quản trị và giám sát thực hiện từ cấp quốc gia, cấp ngành đến cấp doanh nghiệp.
- Đặc điểm phát thải và tiêu thụ tài nguyên của ngành sản xuất xi măng (SXXM): Việt Nam đứng thứ năm thế giới về sản lượng SXXM. Quá trình nung 1 tấn clinker phát thải xấp xỉ 800 kg $\text{CO}_2$ (gồm phân hủy đá vôi và đốt than). Theo dự án NAMA Cement, tiêu thụ năng lượng ngành xi măng chiếm 8% tổng năng lượng tiêu thụ của toàn ngành công nghiệp (trong đó điện năng chiếm gần 50%). Theo kiểm kê khí nhà kính quốc gia, ngành SXXM đứng đầu ngành xây dựng với lượng phát thải khoảng 36,6 triệu tấn $\text{CO}_2$ tương đương. Công suất toàn ngành được quy hoạch đạt khoảng 100 triệu tấn/năm vào năm 2020 (theo Quyết định số 1488/QĐ-TTg).
- Thực trạng quản lý môi trường tại các doanh nghiệp xi măng: Một số nhà máy phát thải vượt ngưỡng quy chuẩn môi trường đã bị xử phạt hoặc tạm dừng hoạt động (như xi măng Phúc Sơn, Vạn Ninh, Tây Nguyên). Cơ quan quản lý ngành (Vụ Khoa học Công nghệ và Môi trường, Vụ Vật liệu xây dựng - Bộ Xây dựng) cần công cụ định lượng cụ thể để giám sát việc thực thi TTX của các đơn vị sản xuất.
Về khoảng trống nghiên cứu, các công trình hiện có về bộ chỉ số TTX chủ yếu tập trung ở cấp độ vĩ mô quốc gia hoặc địa phương; ở cấp ngành mới chỉ có bộ chỉ số phát triển bền vững (như ngành Dầu khí, Than khoáng sản) mà chưa có bộ tiêu chí TTX riêng cho ngành công nghiệp sản xuất xi măng. Đồng thời, quy trình xây dựng chỉ số tại các nghiên cứu trước đây còn thiếu tính hệ thống, chưa đồng nhất về số bước thực hiện và chưa tích hợp đầy đủ các tiêu chuẩn sàng lọc chỉ số phù hợp với đặc thù vận hành của nhà máy xi măng.
Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu: Đề xuất bộ tiêu chí đánh giá thực hiện TTX ngành công nghiệp xi măng Việt Nam (áp dụng cho các doanh nghiệp SXXM), cung cấp công cụ giám sát cho cơ quan quản lý và hỗ trợ doanh nghiệp nhận diện hiện trạng để thực hiện giải pháp cải tiến môi trường.
- Mục tiêu cụ thể:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về TTX.
- Nghiên cứu thực tiễn thực hiện TTX ngành xi măng Việt Nam.
- Áp dụng cơ sở lý luận và thực tiễn để xây dựng bộ tiêu chí.
- Đánh giá kiểm chứng để hoàn thiện bộ tiêu chí.
- Câu hỏi nghiên cứu chính: Bộ tiêu chí cần phải có những tiêu chí nào để có thể đánh giá toàn diện về tăng trưởng xanh cho doanh nghiệp sản xuất xi măng?
- Các câu hỏi nghiên cứu cụ thể:
- Thế nào là TTX, mối quan hệ với phát triển bền vững?
- Các chỉ số liên quan đến TTX hiện có là gì?
- Trên thế giới có những nghiên cứu xây dựng bộ chỉ số như thế nào, quy trình phổ biến và hạn chế của chúng là gì?
- Đánh giá TTX trong ngành công nghiệp bao gồm các tiêu chí/khía cạnh nào?
- Căn cứ để xây dựng bộ tiêu chí là gì?
- Các đặc trưng doanh nghiệp SXXM ảnh hưởng thế nào đến cấu trúc tiêu chí?
- Phương pháp xây dựng và sử dụng bộ tiêu chí ra sao?
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề lý luận, thực tiễn về TTX và đề xuất xây dựng bộ tiêu chí đánh giá thực hiện TTX cho ngành công nghiệp Việt Nam (áp dụng cho các doanh nghiệp SXXM) theo phương pháp tiếp cận từ dưới lên (bottom-up).
- Khách thể và đối tượng khảo sát: 30 cán bộ quản lý chủ chốt thuộc các phân xưởng sản xuất chính và phòng ban chức năng tại các đơn vị thành viên của Tổng công ty Công nghiệp Xi măng Việt Nam (VICEM) (10 cán bộ tại mỗi nhà máy).
- Phạm vi không gian: Ngành công nghiệp sản xuất xi măng Việt Nam, khảo sát thực tế tại 3 doanh nghiệp: Công ty Xi măng Hoàng Thạch, Công ty Xi măng Bút Sơn và Công ty Xi măng Hoàng Mai.
- Phạm vi thời gian: Thu thập dữ liệu thực trạng và xây dựng bộ tiêu chí giai đoạn 2016 – 2018.
- Phạm vi nội dung: Khung lý luận TTX; hệ thống tiêu chí/chỉ số liên quan; quy trình xây dựng chỉ số; các công đoạn công nghệ sản xuất xi măng.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu trước đây
-
Tổng quan khái niệm và chính sách tăng trưởng xanh:
- Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD, 2011) định nghĩa TTX là thúc đẩy tăng trưởng kinh tế song song với việc bảo tồn tài sản tự nhiên để tiếp tục cung ứng tài nguyên và dịch vụ môi trường.
- Ngân hàng Thế giới (World Bank, 2012) nhấn mạnh việc sử dụng hiệu quả tài nguyên, giảm thiểu ô nhiễm và quản lý rủi ro thiên tai.
- Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc (UNEP, 2011) đưa ra khái niệm kinh tế xanh gắn liền với nâng cao phúc lợi con người, công bằng xã hội và giảm thiểu rủi ro sinh thái.
- Các tác giả trong nước như Phạm Thị Xuân Mai (2012), Nguyễn Văn Phước (2015) tiếp cận TTX dưới góc độ tái cơ cấu mô hình tăng trưởng kinh tế gắn với công nghệ sạch và giảm phát thải khí nhà kính.
- Về quan hệ giữa phát triển bền vững (PTBV) và TTX, các báo cáo của Smits J. (2011) và Statistics Netherlands (2013) phân định rõ: PTBV bao quát toàn diện các khía cạnh kinh tế, xã hội và môi trường trong dài hạn; trong khi TTX là tập con của PTBV, tập trung trong khung thời gian ngắn và trung hạn (5–20 năm) vào mối tương tác giữa kinh tế và môi trường.
-
Nghiên cứu về sản xuất xanh và mô hình kinh doanh xanh:
- Các công trình nghiên cứu của Melnyk S. T. (1996), Shiino J. (1999), Yang Yinsheng và cộng sự (2003), Sangwan K. S. (2006), Chien M. & Shih L. H. (2007), Liu H. và cộng sự (2005), Tim Baines và cộng sự (2012) đã chuẩn hóa khái niệm sản xuất xanh, tập trung vào hiệu quả tài nguyên, giảm thiểu chất thải tại nguồn, thu hồi nhiệt thừa và an toàn sức khỏe nghề nghiệp.
- Jing H. & Jiang B. S. (2013) và Eric G. Olson (2010) mô hình hóa chiến lược xanh và cấu trúc kinh doanh xanh cấp doanh nghiệp.
| Tác giả / Tổ chức |
Năm |
Nội dung trọng tâm |
| OECD |
2011 |
Khung chính sách TTX và hệ thống đo lường cấp quốc gia |
| World Bank |
2012 |
Quản lý vốn tự nhiên và hiệu quả nguồn lực trong TTX |
| UNEP |
2011 |
Báo cáo kinh tế xanh trong bối cảnh PTBV và xóa đói giảm nghèo |
| Hartmut Bossel |
1999 |
Quy trình 4 bước xây dựng bộ chỉ số bền vững cấp vĩ mô |
| Dalal-Clayton & Bass |
2002 |
Quy trình 10 bước xây dựng chỉ số PTBV |
| Lê Trịnh Hải & Phạm Hoàng Hải |
2014 |
Phương pháp Delphi xây dựng bộ chỉ số bền vững cấp địa phương |
| Vodop’yanova T. |
2015 |
Bộ chỉ số đánh giá TTX cấp doanh nghiệp tại JSC "Kryon" (Belarus) |
| Hồ Minh Dũng & cộng sự |
2015 |
Bộ tiêu chí TTX cấp quận nội thành TP. Hồ Chí Minh |
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Tổng quan tài liệu cho thấy chưa có công trình nghiên cứu nào thiết lập bộ tiêu chí đánh giá TTX dành riêng cho cấp ngành công nghiệp nặng nói chung và doanh nghiệp sản xuất xi măng nói riêng. Các bộ tiêu chí hiện có hoặc quá tổng quát (cấp quốc gia, tỉnh/thành), hoặc thuần túy về phát triển bền vững mà chưa phản ánh được các đặc tính tiêu thụ nguyên nhiên liệu, phát thải đặc thù của dây chuyền lò quay sản xuất clinker và xi măng. Đồng thời, quy trình xây dựng chỉ số chưa được chuẩn hóa bài bản theo cách tiếp cận từ thực tiễn vận hành của doanh nghiệp.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
Luận án kế thừa khung lý luận TTX của OECD (2011) và mô hình triển khai chiến lược xanh doanh nghiệp của Eric G. Olson (2010). Khung phân tích xác định TTX cấp doanh nghiệp công nghiệp tập trung vào 3 trọng tâm:
- Hiệu quả môi trường và nguồn lực: Tối ưu hóa định mức tiêu hao nguyên vật liệu thô (đá vôi, đất sét, quặng sắt, thạch cao), nhiên liệu than, điện năng và nước cấp.
- Phản hồi chính sách xanh: Mức độ tuân thủ quy chuẩn kỹ thuật quốc gia (QCVN), thực thi các hệ thống quản lý (ISO 9001, ISO 14001, OHSAS 18001/ISO 45001) và chính sách nội bộ.
- Cơ hội kinh tế và trách nhiệm lao động: Lợi ích tài chính từ tiết kiệm năng lượng, bảo đảm việc làm xanh, an toàn lao động và tỷ lệ tái chế phụ gia khoáng/chất thải công nghiệp.
[Khía cạnh Kỹ thuật - Môi trường] [Khía cạnh Kinh tế - Xã hội] [Khía cạnh Quản trị - Chính sách]
- Năng lượng và tài nguyên - Hiệu quả kinh tế - Hệ thống chính sách xanh
- Môi trường tự nhiên (khí, bụi) - Lao động và an toàn - Cơ cấu tổ chức quản lý
- Sản phẩm và tái chế - Chi phí môi trường - Chứng nhận tiêu chuẩn ISO
Phương pháp nghiên cứu thực tế
Luận án kết hợp nghiên cứu định tính và phương pháp định lượng mô tả, xử lý dữ liệu qua các công cụ cụ thể:
- Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp: Tổng hợp các văn bản quy phạm pháp luật (Quyết định 1393/QĐ-TTg, 403/QĐ-TTg, 802/QĐ-BXD), quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường ngành xi măng, báo cáo kỹ thuật của VICEM và các tài liệu học thuật quốc tế.
- Phương pháp khảo sát qua bảng hỏi: Thiết kế phiếu khảo sát theo thang đo Likert 5 điểm nhằm đánh giá mức độ cần thiết và mức độ phù hợp của từng tiêu chí/chỉ số. Khảo sát được thực hiện trên 30 cán bộ quản lý (10 cán bộ/nhà máy tại Hoàng Thạch, Bút Sơn, Hoàng Mai).
- Phương pháp phỏng vấn sâu bán cấu trúc: Phỏng vấn trực tiếp cán bộ kỹ thuật, quản đốc phân xưởng và lãnh đạo phòng ban về các dòng nguyên vật liệu, mức tiêu hao năng lượng, điểm phát thải bụi/khí và tính khả thi trong việc đo lường số liệu tại đơn vị.
- Phương pháp phân tích thứ bậc (Analytic Hierarchy Process - AHP): Sử dụng ma trận so sánh cặp để xác định trọng số cho 7 khía cạnh trong bộ tiêu chí dựa trên ý kiến đánh giá của chuyên gia, đồng thời kiểm tra tỷ số nhất quán ($CR \le 0{,}1$).
- Nguồn dữ liệu thực nghiệm: Số liệu quan trắc môi trường định kỳ (khí thải, nồng độ bụi $\text{TPS}$, $\text{PM}_{10}$, mức ồn $\text{dBA}$), báo cáo định mức tiêu hao nguyên nhiên liệu thực tế giai đoạn 2016–2018 tại Công ty Xi măng Hoàng Thạch, Công ty Xi măng Bút Sơn và Công ty Xi măng Hoàng Mai.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về tăng trưởng xanh
Chương 1 hệ thống hóa các khái niệm nền tảng về PTBV, TTX, công nghệ xanh, công trình xanh, sản phẩm xanh, việc làm xanh và sản xuất xanh. Tác giả phân tích nguồn gốc khái niệm TTX từ Hội nghị Bộ trưởng Môi trường và Phát triển Châu Á - Thái Bình Dương (MCED) năm 2005 do UNESCAP tổ chức tại Hàn Quốc, sáng kiến TTX các bon thấp năm 2008 của Hàn Quốc, đến các tuyên bố của OECD (2009, 2011), G8, G20, UNEP và World Bank.
Về mặt chính sách, chương này phân tích hệ thống văn bản tại Việt Nam (Quyết định 1393/QĐ-TTg, 403/QĐ-TTg, 802/QĐ-BXD, 879/QĐ-TTg). Về mặt thực tiễn ngành xi măng, luận án chỉ ra các số liệu:
- Nhu cầu xi măng tăng nhanh gắn với quá trình đô thị hóa;
- Tiêu thụ năng lượng ngành xi măng chiếm 8% tổng năng lượng công nghiệp cả nước;
- Phát thải $\text{CO}_2$ nung clinker ở mức xấp xỉ 800 kg/tấn;
- Tổng lượng phát thải khí nhà kính toàn ngành đạt 36,6 triệu tấn $\text{CO}_2$ tương đương;
- Các tồn tại về quản lý môi trường tại các doanh nghiệp vi phạm bị xử phạt (Xi măng Phúc Sơn, Vạn Ninh, Tây Nguyên).
Chương 2: Tổng quan về tiêu chí đánh giá liên quan đến tăng trưởng xanh
Chương 2 tổng kết lý thuyết về chỉ số, vai trò, đặc tính chất lượng và các tiêu chuẩn lựa chọn chỉ số đo lường. Tác giả phân tích các quy trình xây dựng chỉ số của Bossel (1999 - 4 bước), Dalal-Clayton & Bass (2002 - 10 bước), quy trình 8 bước của Viện Lowell (LCSP), phương pháp chuyên gia Delphi của Lê Trịnh Hải & Phạm Hoàng Hải (2014), và mô hình Áp lực - Trạng thái - Ứng phó (PSR).
Đồng thời, chương này rà soát các bộ chỉ số hiện hành:
- Bộ chỉ số TTX quốc gia của OECD;
- Bộ chỉ số TTX cấp địa phương (Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh);
- Bộ chỉ số đánh giá hiệu quả nguồn lực;
- Bộ chỉ số sản xuất bền vững và bộ chỉ số TTX cấp doanh nghiệp của Vodop’yanova T. (2015).
Từ việc đánh giá ưu nhược điểm của các nghiên cứu đi trước, tác giả xác định hướng tiếp cận xây dựng quy trình riêng cho doanh nghiệp sản xuất xi măng.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu của luận án
Chương 3 thiết lập quy trình 6 bước có hệ thống để xây dựng và kiểm chứng bộ tiêu chí TTX cho doanh nghiệp sản xuất xi măng:
- Xác định căn cứ lựa chọn tiêu chí: Kết hợp căn cứ lý luận (bộ chỉ số quốc tế, tiêu chuẩn ISO) và căn cứ thực tiễn công nghệ SXXM.
- Xây dựng cấu trúc của bộ tiêu chí: Xác lập 7 khía cạnh đánh giá ban đầu.
- Sàng lọc và chuẩn hóa các chỉ số tiềm năng: Loại bỏ chỉ số trùng lặp, chuẩn hóa đơn vị đo lường.
- Lấy ý kiến phản hồi từ doanh nghiệp: Khảo sát phiếu hỏi và phỏng vấn sâu tại 3 nhà máy xi măng.
- Hoàn thiện bộ tiêu chí: Điều chỉnh, bổ sung và thống nhất danh mục chỉ số chính thức.
- Áp dụng đo lường và đánh giá: Thu thập số liệu vận hành thực tế tại 3 nhà máy và tính toán trọng số bằng AHP.
Chương 4: Xây dựng bộ tiêu chí thực hiện tăng trưởng xanh cho doanh nghiệp sản xuất xi măng Việt Nam
Chương 4 triển khai chi tiết việc xây dựng bộ tiêu chí. Căn cứ thực tiễn được phân tích kỹ lưỡng qua sơ đồ dòng nguyên vật liệu trong 4 công đoạn SXXM: (1) Nghiền bột liệu thô, (2) Đồng nhất bột liệu trong xilô, (3) Nung luyện clinker trong lò quay, (4) Nghiền và đóng bao xi măng.
Từ danh mục chỉ số tiềm năng thu thập từ các nguồn dữ liệu, tác giả tiến hành khảo sát lấy ý kiến 30 cán bộ chuyên môn tại 3 nhà máy xi măng (Hoàng Thạch, Bút Sơn, Hoàng Mai). Kết quả thống kê mô tả cho thấy 7 khía cạnh đều đạt mức độ cần thiết cao (điểm trung bình từ 4,20 đến 4,85 trên thang 5). Qua phỏng vấn sâu, tác giả đã điều chỉnh các chỉ số phù hợp với thực tế ghi chép tại phân xưởng, bổ sung các chỉ số đặc thù (tỷ lệ sử dụng nhiệt thừa phát điện, tỷ lệ tro xỉ nhiệt điện làm phụ gia) và hoàn thiện bộ tiêu chí gồm 7 nhóm tiêu chí chính thức:
| Nhóm tiêu chí (Khía cạnh) |
Các chỉ số tiêu biểu trong bộ tiêu chí |
| 1. Năng lượng và tài nguyên |
Suất tiêu hao than/tấn clinker; Suất tiêu hao điện/tấn xi măng; Lượng nước tiêu thụ/tấn sản phẩm; Tỷ lệ thu hồi nhiệt thừa phát điện |
| 2. Môi trường tự nhiên |
Nồng độ bụi ($\text{TPS}$, $\text{PM}_{10}$); Phát thải $\text{CO}_2$, $\text{CO}$, $\text{NO}_x$, $\text{SO}_x$; Mức độ ồn tại khu vực sản xuất và mỏ khai thác |
| 3. Kinh tế |
Doanh thu; Lợi nhuận; Chi phí đầu tư cho công nghệ thân thiện môi trường; Chi phí nộp phạt vi phạm môi trường |
| 4. Lao động |
Tỷ lệ lao động được trang bị bảo hộ đạt chuẩn; Tần suất tai nạn lao động; Chi phí khám sức khỏe định kỳ cho công nhân |
| 5. Sản phẩm và tái chế |
Tỷ lệ sử dụng chất thải/phụ gia công nghiệp (tro xỉ, thạch cao nhân tạo); Tỷ lệ sản phẩm xi măng xanh đạt tiêu chuẩn |
| 6. Chính sách |
Mức độ áp dụng hệ thống ISO 14001, ISO 50001; Tỷ lệ hoàn thành kế hoạch hành động TTX nội bộ |
| 7. Tổ chức / Quản trị |
Thành lập bộ phận/tổ chuyên trách TTX; Tần suất tổ chức đào tạo nhận thức xanh cho cán bộ công nhân viên |
Chương 5: Áp dụng bộ tiêu chí thực hiện tăng trưởng xanh tại một số doanh nghiệp sản xuất xi măng Việt Nam
Chương 5 trình bày kết quả đo lường thử nghiệm bộ tiêu chí tại 3 đơn vị:
- Tại Công ty Xi măng Hoàng Thạch: Luận án tổng hợp chi tiết kết quả quan trắc khí thải, bụi và tiếng ồn tại 3 khu vực (xung quanh nhà máy, bên trong phân xưởng sản xuất, và tại khu vực khai thác mỏ đá vôi/đất sét). So sánh số liệu tiêu hao nhiệt năng và điện năng của nhà máy với định mức tiêu chuẩn của VICEM.
- So sánh tổng hợp kết quả 3 nhà máy (Hoàng Thạch, Bút Sơn, Hoàng Mai): Các đơn vị đều đạt các chỉ tiêu cơ bản về định mức tiêu hao than và điện cho sản xuất clinker, tuy nhiên mức độ đầu tư cho hệ thống phát điện tận dụng nhiệt khí thải lò quay và tỷ lệ sử dụng tro xỉ phụ gia có sự chênh lệch giữa các dây chuyền cũ và mới.
- Ứng dụng phương pháp AHP tính trọng số: Tác giả xây dựng ma trận so sánh cặp từ ý kiến chuyên gia, chuẩn hóa ma trận và tính toán trọng số ưu tiên cho 7 khía cạnh. Kết quả cho thấy khía cạnh Năng lượng và tài nguyên cùng khía cạnh Môi trường tự nhiên chiếm tỷ trọng cao nhất trong cơ cấu đánh giá TTX.
- Luận án đề xuất mô hình cơ cấu tổ chức "Tổ Tăng trưởng xanh" đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Ban Giám đốc doanh nghiệp để triển khai đo lường định kỳ.
Kết quả và những đóng góp mới
Những đóng góp mới về mặt lý luận và khoa học
- Hoàn thiện quy trình xây dựng bộ tiêu chí TTX: Đề xuất quy trình 6 bước có tính hệ thống, kết hợp chặt chẽ giữa căn cứ lý luận chuẩn mực quốc tế với căn cứ thực tiễn quy trình công nghệ sản xuất công nghiệp, khắc phục các hạn chế của những mô hình trước đây.
- Xác lập cấu trúc 7 khía cạnh đánh giá toàn diện: Luận án định hình rõ 7 nhóm tiêu chí đánh giá TTX cấp doanh nghiệp công nghiệp sản xuất (Năng lượng - tài nguyên; Môi trường tự nhiên; Kinh tế; Lao động; Sản phẩm - tái chế; Chính sách; Tổ chức quản trị), phản ánh đặc thù vận hành của ngành sản xuất vật liệu xây dựng.
- Tích hợp phương pháp định lượng xác định trọng số: Ứng dụng quy trình phân tích thứ bậc AHP để lượng hóa tầm quan trọng của từng khía cạnh, tạo cơ sở cho việc tính điểm tổng hợp và xếp hạng mức độ thực hiện TTX của các doanh nghiệp trong cùng ngành.
Những đóng góp mới về mặt thực tiễn
- Bộ công cụ đo lường chuyên biệt cho ngành xi măng: Lần đầu tiên tại Việt Nam, một bộ tiêu chí đánh giá thực hiện TTX hoàn chỉnh được xây dựng và kiểm chứng thực tế cho các doanh nghiệp sản xuất xi măng.
- Cung cấp dữ liệu thực chứng: Kết quả đo lường tại 3 nhà máy xi măng (Hoàng Thạch, Bút Sơn, Hoàng Mai) phản ánh bức tranh thực tế về mức độ tiêu hao tài nguyên và phát thải, làm căn cứ đối chuẩn cho các doanh nghiệp trong toàn ngành.
- Đề xuất mô hình tổ chức và giải pháp quản lý: Luận án đưa ra mô hình tổ TTX nội bộ và lộ trình triển khai áp dụng bộ tiêu chí tại doanh nghiệp, hỗ trợ doanh nghiệp tối ưu hóa chi phí sản xuất và giảm thiểu rủi ro pháp lý về môi trường.
Kiến nghị và đề xuất
- Đối với Bộ Xây dựng và cơ quan quản lý: Sử dụng bộ tiêu chí làm công cụ định lượng để theo dõi, kiểm tra việc thực hiện Kế hoạch hành động giảm nhẹ phát thải khí nhà kính theo Quyết định 802/QĐ-BXD; ban hành hướng dẫn kỹ thuật áp dụng thống nhất trong toàn ngành xi măng.
- Đối với Tổng công ty Công nghiệp Xi măng Việt Nam (VICEM): Đưa các chỉ số TTX vào hệ thống chỉ tiêu đánh giá kết quả thực hiện công việc (KPI) của người quản lý doanh nghiệp thành viên; ưu tiên phân bổ vốn đầu tư cho các dự án thu hồi nhiệt thừa phát điện và công nghệ nghiền tiết kiệm điện.
- Đối với các doanh nghiệp sản xuất xi măng: Thành lập bộ phận chuyên trách về TTX, tổ chức hệ thống ghi chép và đo kiểm tự động các thông số phát thải, tăng cường tỷ lệ sử dụng chất thải công nghiệp (tro bay, xỉ lò cao) thay thế một phần clinker trong sản xuất xi măng.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của luận án
- Dữ liệu khảo sát thực nghiệm và đo lường mới chỉ được thực hiện tại 3 nhà máy sản xuất xi măng (Hoàng Thạch, Bút Sơn, Hoàng Mai) trực thuộc Tổng công ty Công nghiệp Xi măng Việt Nam (VICEM) trong giai đoạn 2016–2018.
- Mẫu khảo sát chuyên gia và cán bộ phục vụ đánh giá gồm 30 người tại 3 đơn vị; chưa mở rộng khảo sát trên diện rộng đối với các nhà máy xi măng thuộc khối doanh nghiệp tư nhân hoặc doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI).
Hướng nghiên cứu tiếp theo
- Mở rộng phạm vi đo lường và kiểm chứng bộ tiêu chí tại các doanh nghiệp xi măng ngoài hệ thống VICEM (doanh nghiệp tư nhân, liên doanh) nhằm hoàn thiện thang đo định chuẩn toàn quốc.
- Ứng dụng quy trình và phương pháp luận của luận án để nghiên cứu xây dựng bộ tiêu chí đánh giá TTX cho các ngành công nghiệp nặng khác có mức tiêu thụ năng lượng và phát thải cao tại Việt Nam (như ngành luyện thép, sản xuất hóa chất, nhiệt điện).
Giá trị tham khảo
Luận án mang lại giá trị tham khảo học thuật và thực tiễn cho nhiều nhóm đối tượng:
- Cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Xây dựng, Sở Xây dựng các địa phương): Tham khảo quy trình và bảng danh mục tiêu chí để xây dựng văn bản hướng dẫn kỹ thuật, phục vụ việc giám sát và đánh giá thực thi Chiến lược tăng trưởng xanh quốc gia trong ngành công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng.
- Lãnh đạo và cán bộ quản lý doanh nghiệp sản xuất xi măng: Áp dụng trực tiếp 7 nhóm chỉ số để tự đánh giá hiện trạng phát thải và tiêu hao năng lượng của đơn vị, nhận diện điểm nghẽn kỹ thuật để đầu tư đổi mới công nghệ (thu hồi nhiệt thừa, sử dụng phụ gia thay thế).
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học, giảng viên chuyên ngành Kinh tế học, Quản lý công nghiệp và Quản lý tài nguyên môi trường: Tham khảo phương pháp tiếp cận nghiên cứu từ dưới lên (bottom-up), cách thức kết hợp phỏng vấn sâu bán cấu trúc với mô hình phân tích thứ bậc AHP trong việc thiết kế và lượng hóa bộ chỉ số kinh tế - môi trường.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án phân định mối quan hệ giữa tăng trưởng xanh (TTX) và phát triển bền vững (PTBV) như thế nào?
Theo tổng quan lý luận của luận án (dựa trên tài liệu của OECD và Statistics Netherlands), TTX là một bộ phận (tập con) của PTBV. PTBV bao quát cả 3 trụ cột (kinh tế, xã hội, môi trường) trong dài hạn; trong khi TTX tập trung trực tiếp trong khung thời gian ngắn và trung hạn (5–20 năm) vào mối tương tác giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường tự nhiên (hiệu quả tài nguyên, phát thải các bon thấp), không bao gồm các khía cạnh rộng hơn như vốn xã hội hay chất lượng sống phi môi trường.
2. Dữ liệu thực trạng nào về ngành xi măng Việt Nam được tác giả sử dụng để chứng minh tính cấp thiết?
Tác giả dẫn chứng các số liệu: Việt Nam đứng thứ 5 thế giới về sản lượng sản xuất xi măng; quá trình nung 1 tấn clinker phát thải xấp xỉ 800 kg $\text{CO}_2$; năng lượng ngành xi măng chiếm 8% tổng năng lượng công nghiệp toàn quốc (điện năng chiếm gần 50%); toàn ngành phát thải khoảng 36,6 triệu tấn $\text{CO}_2$ tương đương (theo kiểm kê khí nhà kính); và nhiều cơ sở từng bị xử lý vi phạm do phát thải vượt ngưỡng quy chuẩn.
3. Quy trình xây dựng bộ tiêu chí TTX của luận án gồm những bước nào?
Quy trình gồm 6 bước: (1) Xác định căn cứ lựa chọn tiêu chí từ lý luận và thực tiễn; (2) Xây dựng cấu trúc bộ tiêu chí 7 khía cạnh; (3) Sàng lọc và chuẩn hóa các chỉ số tiềm năng; (4) Khảo sát bảng hỏi và phỏng vấn sâu tại doanh nghiệp; (5) Xử lý số liệu và hoàn thiện bộ tiêu chí chính thức; (6) Áp dụng đo lường thực tế và xác định trọng số bằng phương pháp AHP.
4. Bộ tiêu chí đề xuất cho doanh nghiệp sản xuất xi măng gồm những nhóm nào?
Bộ tiêu chí gồm 7 nhóm tiêu chí (khía cạnh): (1) Năng lượng và tài nguyên; (2) Môi trường tự nhiên; (3) Kinh tế; (4) Lao động; (5) Sản phẩm và tái chế; (6) Chính sách; (7) Tổ chức và quản trị.
5. Dữ liệu thực nghiệm được đo lường tại những đơn vị nào và bằng công cụ gì?
Dữ liệu thực nghiệm được thu thập tại 3 nhà máy xi măng thuộc VICEM gồm: Công ty Xi măng Hoàng Thạch, Công ty Xi măng Bút Sơn và Công ty Xi măng Hoàng Mai. Luận án sử dụng phương pháp thống kê mô tả phân tích số liệu quan trắc môi trường, định mức tiêu hao nguyên nhiên liệu và áp dụng phương pháp phân tích thứ bậc AHP để xác định trọng số cho các tiêu chí.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của nghiên cứu sinh Nguyễn Ngọc Thía đã giải quyết vấn đề đánh giá thực hiện tăng trưởng xanh trong ngành công nghiệp sản xuất xi măng tại Việt Nam thông qua cách tiếp cận từ dưới lên. Bằng việc kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính, khảo sát thực địa tại 3 nhà máy xi măng thuộc VICEM và kỹ thuật phân tích thứ bậc AHP, tác giả đã xây dựng thành công bộ tiêu chí gồm 7 khía cạnh đo lường toàn diện từ kỹ thuật sản xuất, phát thải môi trường đến quản trị chính sách. Công trình cung cấp cơ sở khoa học cho cơ quan quản lý nhà nước trong việc giám sát mục tiêu giảm phát thải khí nhà kính ngành xây dựng, đồng thời đóng vai trò là công cụ quản trị giúp các doanh nghiệp xi măng nhận diện hiện trạng và triển khai các giải pháp sản xuất sạch hơn.