Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Các công trình nghiên cứu nước ngoài và trong nước liên quan đến đề tài 1. Các công trình nghiên cứu nước ngoài có liên quan đến đề tài 1. Các công trình nghiên cứu về phát triển bền vững Peter P.Jalal and John A.
Cuốn sách tập trung nghiên cứu những kiến thức cơ bản về PTBV, trong đó đã đi sâu nghiên cứu các vấn đề như: Môi trường toàn cầu; chỉ số đo lường và chỉ số đánh giá tính bền vững; cách tiếp cận và mối liên kết với giảm nghèo; những ảnh hưởng và phát triển cơ sở hạ tầng; các vấn đề về kinh tế, sản xuất, tiêu dùng. Đặc biệt ở chương một cuốn sách tập trung phân tích về tiêu chí và chỉ số đánh giá tính bền vững. Đồng thời, dành hai chương để phân tích hạn chế trong sản xuất và trao đổi sản phẩm, khắc phục thiên tai để PTBV. Kết quả nghiên cứu này, góp phần giải quyết những vướng mắc về mặt lý luận khi nghiên cứu về PTBV.
Trong công trình khoa học này, tác giả đã luận giải các vấn đề có liên quan như: lịch sử ra đời, các quan điểm hiện nay về PTBV, các trở ngại và triển vọng về PTBV. Tác giả khẳng định sự cần thiết PTBV hiện nay là để khôi phục môi trường ngày càng bị ô nhiễm trầm trọng do con người gây ra và quá trình biến đổi khí hậu diễn ra nhanh chóng. Nội dung cơ bản của cuốn sách trả lời cho các câu hỏi: Chúng ta có thể hướng tới phát triển một xã hội bền vững hay không? PTBV có nghĩa gì với xã hội? Chúng ta phải làm gì để thiết lập một hệ thống PTBV trên cả ba lĩnh vực kinh tế, xã hội, môi trường? John Blewitt (2008), “Understanding Sustainable Development” (Hiểu về sự phát triển bền vững) [127]. Cuốn sách đã khái quát khá rõ nét những vấn đề cơ bản về PTBV, một trong những nội dung được tác giả phân tích đó là luan an 11 mối quan hệ giữa xã hội và môi trường trong phát triển bền vững và điều hành của Chính phủ, thông qua các công cụ chính sách.
Bên cạnh đó, tác giả đã chỉ ra những vấn đề có tính dự báo về một xã hội bền vững trong tương lai. Nội dung cuốn sách đã góp phần quan trọng làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về PTBV, quan điểm và mối quan hệ của các trụ cột cấu thành PTBV. Trong bài báo này tác giả đã nhấn mạnh để có một nền kinh tế PTBV thì đòi hỏi phải bảo đảm cân bằng các yếu tố như các chính sách thị trường, chính sách tiền tệ, chính sách thương mại và sự điều hành của Chính phủ. Vì vậy, để PTBV các Quốc gia cần phải chú trọng đến các yếu tố tạo đòn bẩy cho sự tăng trưởng kinh tế và tác động tích cực đến vấn đề PTBV.
Theo đó, tác giả nhấn mạnh để PTBV thì vai trò của Chính phủ là vô cùng quan trọng. Tuy nhiên, việc Chính phủ sử dụng những công cụ trên cần có sự cân nhắc phù hợp với điều kiện của từng quốc gia. Vì vậy, cần phát huy vai trò của Chính phủ trong quá trình PTBV là một trong những yếu tố quan trọng đã được rút ra từ thực tiễn mà trong quá trình nghiên cứu về PTBV cần phải chú trọng. Malik Abdul, Grohmann, Elisabeth (2012), “Environmental Protection Strategies for Sustainable Development” (Chiến lược bảo vệ môi trường cho phát triển bền vững) [123].
Cuốn sách đưa ra những cảnh báo cho hành tinh chúng ta đang xuống cấp về môi trường ở mức báo động, do quá trình phát triển thiếu bền vững của con người. Bằng phương pháp nghiên cứu khoa học chuyên ngành, phạm vi nghiên cứu rộng bao gồm cả lý luận về PTBV và nghiên cứu tiềm năng của vi sinh vật có lợi cho quá trình phát triển cây trồng và giải quyết vấn đề ô nhiễm đất, môi trường, xử lý chất thải bằng công nghệ sinh học. Cuốn sách cung cấp phương pháp giải quyết những vấn đề trên thực tế, để thực hiện chiến lược PTBV. Các công trình nghiên cứu về công nghiệp hỗ trợ Goh Ban Lee, (1998), “Linkage between the Multinational Corporations and Local Supporting Industries” (Liên kết giữa các tập đoàn đa quốc gia và các ngành CNHT nội địa) [125].
Trong công trình khoa học này, tác giả phân tích khá luan an 12 sâu sắc mối quan hệ chặt chẽ trong hợp tác sản xuất, phân công lao động giữa các tập đoàn đa quốc gia với các doanh nghiệp CNHT của Malaysia trong việc thúc đẩy nền kinh tế Malaysia phát triển. Đó chính là sự liên kết, hợp tác chặt chẽ giữa các tập đoàn đa quốc gia với các doanh nghiệp CNHT trong quá trình sản xuất sản phẩm công nghiệp hoàn chỉnh. Đồng thời, tác giả cũng chỉ rõ tầm quan trọng của chính sách đầu tư phát triển nguồn nhân lực và các chính sách ưu đãi hỗ trợ về thuế, đất đai và các thủ tục đầu tư của Chính phủ Malaysia đối với các tập đoàn điện tử gia dụng của Nhật Bản và các doanh nghiệp nội địa trong sản xuất linh, phụ kiện phục vụ cho ngành điện tử tại Malaysia. Japan Bank for International Cooperation (2004),“Survey report on overseas business operations by Japanese manufacturing companies” (Báo cáo khảo sát các hoạt động kinh doanh ở nước ngoài của các công ty chế tạo Nhật Bản) [122].
Báo cáo đã phân tích khá sâu sắc thực tiễn quá trình sản xuất của các chi nhánh thuộc các tập đoàn kinh tế lớn của Nhật Bản ở Châu Á, cụ thể ở một số nước như: Thái Lan, Indonesia, Malaysia. Các tập đoàn của Nhật Bản đã sử dụng khá hiệu quả hệ thống các nhà thầu phụ với vai trò là doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp từ Nhật Bản, sản xuất linh phụ kiện hoặc cụm linh kiện và cung cấp dịch vụ công nghiệp cần thiết cho việc sản xuất sản phẩm cuối cùng của mình, đó chính là các doanh nghiệp CNHT. Trong đó, hệ thống thầu phụ này cung cấp các nguyên liệu, linh kiện, phụ tùng cho các doanh nghiệp, nhà sản xuất, lắp ráp tại các nước Châu Á như: Thái Lan, Indonesia, Malaysia giúp cho các nước này hoàn chỉnh quá trình sản xuất sản phẩm hoàn chỉnh. Trung tâm nghiên cứu Diễn đàn hợp tác Châu Á - Thái Bình Dương.
Trong công trình này, tác giả đã luận giải và chỉ rõ làm thế nào để các nước thành viên Diễn đàn hợp tác Châu Á - Thái Bình Dương cùng nhau thúc đẩy mạng lưới DNNVV hiệu quả hơn nhằm hỗ trợ các công ty sản xuất cung cấp các nguyên liệu, linh kiện, phụ tùng có vốn đầu tư nước ngoài. Mặc dù đã có nhiều chính sách được đưa luan an 13 ra nhưng vấn đề cung cấp sản phẩm CNHT được đề cập đến như là mô hình kịp thời để giải quyết mối quan hệ về lợi ích và khắc phục những hạn chế và bất cập của APEC trong quá trình chuyển đổi hoặc tăng trưởng nhanh chóng. Bởi các nhà sản xuất thành phần chính sẽ tham gia vào đối thoại và đại diện phần nào cho mạng lưới nhà cung cấp vừa và nhỏ mà họ phối hợp. Do đó, cần xây dựng mạng lưới được phân biệt rõ ràng giữa nhà cung cấp lớn hơn và nhỏ hơn, sau đó tìm cách để kết hợp lại các ý kiến về các vấn đề liên quan đến lĩnh vực chính.
Tác giả cho rằng có hai cách tiếp cận khái niệm công nghiệp hỗ trợ: từ lý thuyết kinh tế và từ thực tiễn sản xuất kinh doanh. Theo lý thuyết kinh tế, CNHT được định nghĩa là các ngành sản xuất đầu vào (manufactured inputs). Hàng hóa sản phẩm sau cùng được tạo ra từ quá trình sản xuất và lắp ráp, gồm các sản phẩm, hàng hóa trung gian và các sản phẩm, hàng hóa phục vụ quá trình sản xuất. Đồng thời, tác giả đánh giá khái quát thực trạng ngành CNHT của Việt Nam chỉ ra nguyên nhân của những hạn chế, đề xuất một số giải pháp có tính chất định hướng nhằm phát triển CNHT phục vụ cho quá trình CNH,HĐH ở Việt nam.
Goodwill Consultant JSC và diễn đàn phát triển Việt Nam (VDF) (2011), “Survey on comparision of backgrounds, polycy measuares and outcomes for development of supporting industries in ASEAN (Malaysia and Thailand With VietNam)” (Điều tra trên cơ sở so sánh các biện pháp chính sách và những kết quả đối với phát triển công nghiệp hỗ trợ ở ASEAN (Malaysia và Thái Lan với Việt Nam) [116]. Nội dung cuốn sách, trình bày khá toàn diện về kinh nghiệm của hai nước trong số các nước ASEAN đã có nhiều chương trình nghiên cứu về CNHT từ những năm 1980. Thông qua việc phân tích các vấn đề về bối cảnh; định nghĩa và phạm vi của CNHT; tổ chức chính sách và các vấn đề liên quan đến CNHT; các biện pháp chính sách; các nhân tố ảnh hưởng chính sách và kết quả đạt được trong phát triển CNHT. Trên cơ sở đó, các tác giả đưa ra những so sánh với Việt luan an 14 Nam trên cơ sở nghiên cứu thực trạng phát triển CNHT ở Việt Nam về những thành tựu và bất cập về khung chính sách, từ đó, đưa ra 7 phát hiện chính từ kết quả so sánh đó.
Từ những phân tích đó, tác giả chỉ ra những nét tương đồng và sự khác biệt về chính sách của hai quốc gia này so với Việt Nam, song dù bằng cách nào, mỗi quốc gia đều thiết lập cho mình một phương thức hoạch định chính sách công nghiệp tiên tiến, hiện đại và Việt Nam có thể học hỏi một cách có chọn lọc từ những kinh nghiệm phát triển CNHT vô cùng sâu sắc từ hai quốc gia này. Bài viết đã phân tích thực trạng ngành CNHT cơ khí tại Malaysia, được đánh giá dựa trên các tiêu chí về khuôn mẫu và khuôn chết của gia công, công nghệ chế tạo máy, công nghiệp cán kim loại, công nghiệp đúc, công nghiệp xử lý nhiệt. Từ đó tác giả khẳng định, sự phát triển nhanh chóng của máy móc trong vòng 3 thập kỷ qua, song song với sự phát triển tổng thể của ngành công nghiệp sản xuất quốc gia. Malaysia đã được các nước trên thế giới công nhận về khả năng và chất lượng sản xuất trong nhiều lĩnh vực của ngành cơ khí.
Trên cơ sở đó tác giả, đưa ra kết luận về sự đóng góp to lớn của ngành CNHT cơ khí cho quá trình phát triển ngành công nghiệp nói riêng và nền kinh tế quốc dân nói chung.