Tổng quan nghiên cứu

Khu bảo tồn Sao La tỉnh Thừa Thiên Huế được thành lập chính thức theo Quyết định số 2020/2013/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế với tổng diện tích tự nhiên là 15.519,93 ha. Nằm trải dài trên địa bàn 3 xã gồm Hương Nguyên (huyện A Lưới), Thượng Quảng và Thượng Long (huyện Nam Đông), khu bảo tồn sở hữu tỷ lệ che phủ rừng đạt tới 91,36%, tương ứng với 14.007,40 ha đất có rừng. Đây là vùng cảnh quan sinh thái nguyên sinh đất thấp tiêu biểu nhất của dãy Trung Trường Sơn, giữ vai trò phòng hộ xung yếu cho lưu vực sông Hữu Trạch và sông Hương. Vùng rừng này là sinh cảnh sống trọng yếu của 48 loài động vật nguy cấp có tên trong Sách Đỏ, đặc biệt là loài Sao La (Pseudoryx nghetinhensis) được xếp ở bậc Cực kỳ nguy cấp (CR) cùng Mang lớn và Mang Trường Sơn.

Tuy nhiên, tài nguyên rừng tại đây đang đối mặt với nhiều áp lực nghiêm trọng từ nạn săn bắt động vật hoang dã bằng bẫy dây phanh, khai thác gỗ quý trái phép và tác động phân mảnh sinh cảnh từ tuyến đường Hồ Chí Minh và đường tỉnh 74. Mục tiêu nghiên cứu tập trung đánh giá toàn diện hiện trạng tài nguyên rừng, phân tích cơ cấu tổ chức quản lý, nhận diện nguyên nhân đe dọa trong giai đoạn 2014-2019, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả quản trị rừng bền vững. Nghiên cứu mang ý nghĩa khoa học sâu sắc khi bổ sung dữ liệu sinh thái học cho dãy Trường Sơn, đồng thời cung cấp luận cứ thực tiễn giúp nâng mức thu nhập của người dân nhận khoán bảo vệ rừng lên 10 triệu đồng mỗi năm và tối ưu hóa năng lực kiểm soát của 4 trạm bảo vệ rừng trực thuộc.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên nền tảng lý thuyết Quản lý rừng bền vững (Sustainable Forest Management - SFM) khởi xướng từ Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất Rio 1992, kết hợp bộ 8 tiêu chuẩn và 52 chỉ tiêu giám sát tài nguyên của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc (FAO). Song song với đó, khung lý thuyết Quản lý rừng dựa vào cộng đồng (Community-Based Forest Management - CBFM) được áp dụng nhằm phân tích mối quan hệ tương hỗ giữa sinh kế cư dân bản địa và bảo tồn hệ sinh thái. Nghiên cứu tích hợp 3 khái niệm cốt lõi: Rừng đặc dụng theo phân vùng chức năng nghiêm ngặt, Hành lang đa dạng sinh học kết nối liên vùng (Biodiversity Corridor) và Dịch vụ môi trường rừng (PES). Hệ thống cơ sở pháp lý căn cứ chặt chẽ vào Luật Lâm nghiệp năm 2017, Nghị định số 06/2019/NĐ-CP về quản lý thực vật, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm và Chỉ thị số 13-CT/TW của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp giai đoạn 5 năm (2014-2019) thu thập từ Chi cục Kiểm lâm tỉnh Thừa Thiên Huế, Ban quản lý Khu bảo tồn Sao La và Ủy ban nhân dân 5 xã vùng đệm. Về dữ liệu sơ cấp, tác giả tiến hành điều tra bảng hỏi với cỡ mẫu 50 hộ gia đình tại 5 thôn giáp ranh khu bảo tồn. Phương pháp chọn mẫu khối ngẫu nhiên (Randomized Block Sampling) được áp dụng, trong đó mỗi thôn được xác định là một khối đại diện cho các nhóm cộng đồng có sinh kế tác động trực tiếp lên tài nguyên rừng. Ngoài ra, nghiên cứu thực hiện phỏng vấn sâu cán bộ kiểm lâm và tổ chức thảo luận nhóm chuyên gia 6 thành viên am hiểu chuyên môn để chấm điểm theo Bộ công cụ theo dõi hiệu quả quản lý (METT - Management Effectiveness Tracking Tool). Lý do lựa chọn kết hợp thống kê mô tả qua phần mềm chuyên dụng và đánh giá định tính METT nhằm lượng hóa chính xác hiện trạng trữ lượng lâm phần, đồng thời phản ánh khách quan các điểm nghẽn về cơ chế chính sách, nguồn nhân lực và năng lực tài chính của đơn vị.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Tổng diện tích đất có rừng do đơn vị quản lý đạt 14.007,40 ha, trong đó rừng tự nhiên chiếm 14.000,90 ha và rừng trồng là 6,50 ha. Diện tích rừng gỗ tự nhiên chiếm ưu thế tuyệt đối với 12.923,97 ha, phân bổ thành 2.638,61 ha rừng giàu (trữ lượng bình quân 295 m3/ha), 3.190,45 ha rừng trung bình (trữ lượng bình quân 92 m3/ha) và 3.190,45 ha rừng nghèo. Diện tích đất chưa thành rừng còn 1.316,54 ha, chủ yếu là đất khoanh nuôi tái sinh tự nhiên với 1.205,04 ha.

Về giá trị đa dạng sinh học, khu bảo tồn ghi nhận 1.035 loài thực vật bậc cao thuộc 162 họ và 564 loài động vật có xương sống. Trong 42 loài thú được ghi nhận, có 23 loài thuộc Phụ lục IB và IIB của Nghị định 06/2019/NĐ-CP, cùng 139 loài chim thuộc 34 họ. Về mặt xã hội học, vùng đệm có 71,44% dân số là đồng bào dân tộc thiểu số Cơ Tu và Tà Ôi với tỷ lệ hộ nghèo lên đến 25,478%. Thu nhập bình quân chỉ đạt 13,514 triệu đồng/người/năm, tương đương 78,24% mức thu nhập trung bình toàn huyện. Toàn bộ khu bảo tồn rộng trên 15.500 ha chỉ được bảo vệ bởi 25 cán bộ, viên chức phân bổ tại 4 trạm tuần tra, tạo ra áp lực quản lý rất lớn khi 15% lực lượng lao động địa phương đang thiếu việc làm.

Thảo luận kết quả

Thực trạng tài nguyên rừng và áp lực xâm hại tại Khu bảo tồn Sao La có mối quan hệ biện chứng với điều kiện kinh tế - xã hội vùng giáp ranh. Áp lực săn bắt và khai thác lâm sản bắt nguồn từ việc diện tích đất canh tác nông nghiệp quá thấp, chỉ đạt 1,29 ha/hộ, dẫn đến an ninh lương thực chưa đảm bảo (367 kg/người/năm). Dữ liệu nghiên cứu về cơ cấu diện tích có thể được mô hình hóa rõ nét qua biểu đồ tròn so sánh tỷ lệ 3 phân khu chức năng: Phân khu bảo vệ nghiêm ngặt chiếm 76,29% (11.840 ha), Phân khu phục hồi sinh thái chiếm 22,87% (3.550 ha) và Phân khu hành chính dịch vụ chiếm 0,84% (124,93 ha).

Bên cạnh đó, bảng tổng hợp đánh giá METT cho thấy điểm hạn chế lớn nhất nằm ở trang thiết bị tuần tra chuyên dụng và nguồn lực tài chính tự chủ. So sánh với các khu bảo tồn lân cận như Khu bảo tồn Sao La Quảng Nam và Vườn quốc gia Bạch Mã, địa bàn nghiên cứu có tính liên kết hành lang sinh thái hoàn hảo, nhưng cấu trúc nhân sự với 50% cán bộ trình độ sơ cấp hoặc đang đào tạo là rào cản kỹ thuật cần tháo gỡ ngay để đáp ứng công tác bảo tồn động vật quý hiếm.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, kiện toàn tổ chức bộ máy và nâng cao năng lực chuyên môn: Cần chuẩn hóa trình độ chuyên môn cho 25 cán bộ hiện có, nâng tỷ lệ cán bộ có trình độ đại học lên trên 85% trong giai đoạn 2021-2025. Ban quản lý phối hợp Chi cục Kiểm lâm tỉnh Thừa Thiên Huế tổ chức tối thiểu 4 đợt tập huấn chuyên sâu hàng năm về công nghệ GIS và phần mềm tuần tra SMART.

Thứ hai, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ giám sát và phòng ngừa vi phạm: Đầu tư lắp đặt hệ thống bẫy ảnh tự động tại các tiểu khu trọng điểm như 345, 351, 404; trang bị thiết bị định vị vệ tinh GPS cho 100% các tổ tuần tra rừng. Mục tiêu đặt ra là tháo gỡ triệt để các loại bẫy dây phanh, giảm 80% số vụ vi phạm khai thác gỗ quý trong vòng 24 tháng.

Thứ ba, phát triển sinh kế bền vững gắn với chi trả dịch vụ môi trường rừng: Mở rộng diện tích giao khoán bảo vệ rừng cho các cộng đồng thôn tại xã A Roàng, Hương Nguyên, Thượng Quảng lên quy mô trên 5.000 ha. Đảm bảo nguồn thu từ dịch vụ môi trường rừng giúp mỗi hộ gia đình nhận khoán có thêm thu nhập bình quân 10 triệu đồng/năm, đồng thời hỗ trợ phát triển mô hình trồng rừng gỗ lớn và phục hồi nghề dệt Zèng truyền thống.

Thứ tư, đa dạng hóa nguồn vốn đầu tư và mở rộng hợp tác quốc tế: Tranh thủ các nguồn vốn viện trợ phi chính phủ từ Quỹ Quốc tế Bảo vệ Thiên nhiên (WWF), Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID) và Quỹ Môi trường Toàn cầu (GEF) để huy động nguồn kinh phí khoảng 5 tỷ đồng mỗi năm phục vụ nâng cấp cơ sở vật chất cho 3 trạm quản lý bảo vệ rừng Tây Sao La, A Tép và Trà Lệnh.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, cán bộ quản lý và lực lượng kiểm lâm tại các khu bảo tồn thiên nhiên, vườn quốc gia: Luận văn cung cấp khung phương pháp đánh giá hiệu quả quản lý thông qua công cụ METT và quy trình thiết lập tuần tra bảo vệ sinh cảnh cho các loài thú móng guốc nguy cấp.

Thứ hai, các nhà khoa học, giảng viên và học viên cao học chuyên ngành Lâm học, Quản lý tài nguyên rừng: Tài liệu là nguồn tham khảo giá trị về phương pháp điều tra thực địa, phân tích cấu trúc rừng tự nhiên lá rộng thường xanh và hệ sinh thái vùng núi thấp Trung Trường Sơn với danh mục 1.035 loài thực vật và 564 loài động vật.

Thứ ba, cơ quan quản lý nhà nước và chính quyền địa phương: Lãnh đạo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Ủy ban nhân dân huyện A Lưới và Nam Đông có thể ứng dụng các đề xuất trong việc xây dựng phương án tự chủ tài chính cho các ban quản lý rừng đặc dụng theo quy định của Luật Lâm nghiệp 2017.

Thứ tư, các tổ chức phi chính phủ và các chuyên gia phát triển cộng đồng: Dữ liệu kinh tế - xã hội chi tiết của 5 xã vùng đệm là cơ sở dữ liệu thực tiễn để thiết kế các dự án viện trợ sinh kế, giảm thiểu sự phụ thuộc của người dân vào tài nguyên rừng đặc dụng.

Câu hỏi thường gặp

Khu bảo tồn Sao La Thừa Thiên Huế có vai trò sinh thái đặc biệt như thế nào? Khu bảo tồn có diện tích 15.519,93 ha, bảo vệ diện tích rừng tự nhiên đạt 14.007,40 ha. Đây là sinh cảnh sống của loài Sao La cực kỳ nguy cấp và là mắt xích kết nối hành lang sinh thái liên hoàn giữa Vườn quốc gia Bạch Mã, Khu bảo tồn Sao La Quảng Nam và Khu bảo tồn Xê Sáp của Lào.

Những nguy cơ lớn nhất đe dọa đa dạng sinh học tại khu vực là gì? Hai nguy cơ hàng đầu là tình trạng đặt bẫy thú bằng dây phanh diễn ra trên diện rộng và khai thác trái phép các loài gỗ quý như gõ, lim, kiền, huỷnh. Áp lực này gia tăng do tỷ lệ hộ nghèo vùng đệm đạt 25,478% và 15% lao động địa phương thiếu việc làm.

Công cụ METT được áp dụng trong luận văn nhằm mục đích gì? Bộ công cụ METT được áp dụng thông qua nhóm thảo luận 6 chuyên gia lâm nghiệp nhằm lượng hóa toàn diện các tiêu chí về bối cảnh pháp lý, kế hoạch quản lý, nguồn nhân lực và kết quả đầu ra, từ đó xác định chính xác các điểm nghẽn trong quản trị rừng đặc dụng.

Chính sách giao khoán bảo vệ rừng mang lại hiệu quả kinh tế ra sao cho người dân? Khi tham gia nhận khoán bảo vệ rừng kết hợp trồng rừng nguyên liệu quy mô bình quân 2 ha/hộ, người dân địa phương có thể đạt thêm nguồn thu nhập khoảng 10 triệu đồng/năm, tương đương 40% tổng thu nhập hiện tại, giúp giảm áp lực khai thác rừng trái phép.

Hệ thực vật và động vật tại khu bảo tồn phong phú ở mức độ nào? Khu bảo tồn ghi nhận 1.035 loài thực vật bậc cao thuộc 162 họ và 564 loài động vật. Trong đó có 42 loài thú (23 loài thuộc Nghị định 06/2019/NĐ-CP), 139 loài chim và 73 loài lưỡng cư, bò sát với nhiều loài đặc hữu quý hiếm.

Kết luận

  • Khu bảo tồn Sao La sở hữu 14.007,40 ha rừng tự nhiên với độ che phủ 91,36%, lưu giữ 1.035 loài thực vật và 564 loài động vật quý hiếm.
  • Hệ thống quản lý hiện có 25 cán bộ phụ trách 4 trạm tuần tra, đang đối mặt với nhiều khó khăn về trang thiết bị và áp lực sinh kế từ 5 xã vùng đệm có tỷ lệ nghèo 25,478%.
  • Đóng góp khoa học then chốt của luận văn là lượng hóa hiện trạng trữ lượng lâm phần và áp dụng thành công bộ công cụ METT trong đánh giá quản trị rừng đặc dụng.
  • Lộ trình triển khai giải pháp giai đoạn 2021-2025 cần tập trung chuẩn hóa năng lực nhân sự, số hóa tuần tra SMART và mở rộng giao khoán bảo vệ rừng trên 5.000 ha.
  • Kêu gọi các cấp chính quyền, cơ quan lâm nghiệp và các tổ chức quốc tế tăng cường liên kết, đầu tư nguồn lực tài chính bền vững để bảo vệ an toàn loài Sao La và bảo tồn hệ sinh thái rừng Trường Sơn.