Tổng quan nghiên cứu

Theo báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia, mỗi năm khu vực nông thôn Việt Nam phát sinh hơn 76 triệu tấn rơm rạ và trên 14.000 tấn bao bì, chai lọ hóa chất bảo vệ thực vật có hàm lượng độc chất cao. Tại huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội – địa phương đầu tiên của Thủ đô đạt chuẩn nông thôn mới từ năm 2015 với diện tích tự nhiên 7.735,48 ha – quá trình chuyển đổi cơ cấu cây trồng sang thâm canh rau màu, hoa và cây ăn quả chất lượng cao đã kéo theo lượng rác thải đồng ruộng gia tăng nhanh chóng. Ước tính mỗi năm huyện phát sinh trên 30.000 tấn phụ phẩm cây trồng cùng hơn 5 tấn vỏ bao bì phân bón và thuốc bảo vệ thực vật.

Vấn đề đặt ra là hạ tầng và quy trình thu gom, xử lý rác thải nông nghiệp tại chỗ chưa theo kịp tốc độ thâm canh, gây nguy cơ ô nhiễm nghiêm trọng đối với hệ sinh thái đất, nước ngầm và chất lượng không khí. Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý kinh tế của tác giả Bùi Văn Trang, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Nguyễn Phượng Lê tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam, được thực hiện nhằm đánh giá toàn diện thực trạng quản lý rác thải đồng ruộng trên địa bàn huyện Đan Phượng giai đoạn 2015 - 2017. Từ các chỉ số định lượng về khối lượng phát sinh và tỷ lệ thu gom thực tế, nghiên cứu xác lập hệ thống giải pháp nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước đối với chất thải nông nghiệp trên phạm vi 16 xã, thị trấn, định hướng tầm nhìn đến năm 2025 nhằm hỗ trợ mục tiêu phát triển nông nghiệp sinh thái bền vững.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên sự tích hợp giữa lý thuyết quản lý nhà nước về môi trường nông thôn và mô hình quản lý chất thải rắn tổng hợp (Integrated Solid Waste Management - ISWM). Khung phân tích tập trung vào chu trình khép kín bao gồm: nhận thức nguồn thải, phân loại tại ruộng, thu gom, vận chuyển và công nghệ xử lý cuối kỳ.

Các khái niệm trọng tâm được chuẩn hóa bao gồm:

  • Rác thải đồng ruộng: Toàn bộ chất thải rắn phát sinh trực tiếp trong canh tác trồng trọt, chia thành hai nhóm chính là phụ phẩm hữu cơ sinh học (rơm rạ, thân cây, lá thừa) và rác thải vô cơ nguy hại (vỏ chai thủy tinh, gói nilon thuốc bảo vệ thực vật, vỏ bao phân bón).
  • Quản lý nhà nước về rác thải nông nghiệp: Hệ thống tác động có tổ chức của bộ máy chính quyền thông qua quy hoạch, văn bản chỉ đạo, kiểm tra, giám sát và phân bổ ngân sách.
  • Phân loại và xử lý tại nguồn: Biện pháp kỹ thuật nhằm tách biệt rác có thể phân hủy hữu cơ và rác thải nguy hại ngay sau quá trình phun xịt, thu hoạch.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp chặt chẽ giữa dữ liệu thứ cấp giai đoạn 2015 - 2017 và dữ liệu sơ cấp thu thập trong năm 2017. Cỡ mẫu điều tra khảo sát được xác lập với quy mô 145 phiếu quan sát đại diện, bao gồm 25 cán bộ công chức thuộc Phòng Tài nguyên và Môi trường, Phòng Kinh tế, Trạm Bảo vệ thực vật huyện và cán bộ chuyên trách nông nghiệp - địa chính cấp xã; cùng 120 hộ nông dân trực tiếp canh tác.

Phương pháp chọn mẫu phân tầng có chủ đích được áp dụng tại 4 xã điểm đại diện cho 4 tiểu vùng sinh thái nông nghiệp đặc trưng của huyện Đan Phượng: tiểu vùng ven sông Đáy, tiểu vùng bãi ven sông Hồng, tiểu vùng Tiên Tân và tiểu vùng Đan Hoài. Phương pháp thống kê mô tả kết hợp thống kê so sánh được lựa chọn làm công cụ phân tích cốt lõi nhằm định lượng hóa khối lượng phát sinh rác thải trên mỗi đơn vị diện tích gieo trồng, so sánh biến động cơ cấu diện tích đất nông nghiệp từ 3.523 ha năm 2015 xuống 3.309,03 ha năm 2017, đồng thời lượng hóa mức độ hài lòng và nhận thức của người dân về các chính sách bảo vệ môi trường đồng ruộng.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phân tích thực địa phản ánh 4 phát hiện quan trọng về hiện trạng quản lý rác thải đồng ruộng tại huyện Đan Phượng:

  • Khối lượng phát sinh rác thải rất lớn nhưng cơ cấu đang biến động: Hàng năm huyện thải ra hơn 30.000 tấn phế phụ phẩm hữu cơ và trên 5 tấn rác thải bao bì nguy hại. Diện tích đất canh tác nông nghiệp giảm 213,97 ha (tương ứng giảm 6,07% trong giai đoạn 2015 - 2017), đưa tỷ trọng giá trị sản xuất nông nghiệp trong cơ cấu kinh tế huyện từ 11,75% năm 2015 xuống còn 9,85% năm 2017. Dù diện tích giảm, cường độ sử dụng thuốc bảo vệ thực vật trên các vùng chuyên canh hoa, rau màu lại tăng cao.
  • Tỷ lệ thu gom rác nguy hại đạt thấp: Toàn huyện mới chỉ thu gom được khoảng 60% tổng lượng chai lọ, bao bì thuốc bảo vệ thực vật phát sinh. Khoảng 40% lượng rác nguy hại còn lại vẫn bị vứt bỏ rải rác ven bờ ruộng, mương tưới tiêu nội đồng.
  • Hạ tầng lưu chứa và xử lý thiếu đồng bộ: Mật độ bố trí bể chứa, thùng rác chuyên dụng trên đồng ruộng tại 4 xã điều tra chưa phủ kín diện tích canh tác; nhiều bể chứa xuống cấp, không có nắp đậy đạt chuẩn. Rác sau khi thu gom vào bể tập kết thường bị lưu lưu giữ nhiều tháng do thiếu kinh phí vận chuyển và hợp đồng xử lý định kỳ.
  • Tập quán xử lý phụ phẩm hữu cơ gây lãng phí: Có 6 phương thức xử lý rơm rạ được ghi nhận, nhưng chiếm tỷ lệ áp đảo vẫn là đốt lộ thiên lấy tro hoặc vùi tươi vào đất. Đốt rơm rạ làm thất thoát gần như 100% hàm lượng Nitơ, khoảng 25% Photpho, 20% Kali và từ 5% đến 60% Lưu huỳnh, đồng thời phát thải lượng lớn khói bụi và khí nhà kính.

Thảo luận kết quả

Thực trạng tỷ lệ thu gom chỉ đạt 60% bắt nguồn từ sự thiếu đồng bộ giữa các cơ quan quản lý. Hiện nay, chức năng bảo vệ môi trường nông thôn có sự chồng chéo giữa Phòng Tài nguyên và Môi trường (phụ trách quản lý chất thải chung) và Phòng Kinh tế cùng Trạm Bảo vệ thực vật (phụ trách chỉ đạo sản xuất và phân bón, thuốc bảo vệ thực vật). Bên cạnh đó, thu nhập bình quân đầu người của huyện năm 2017 đạt 40,3 triệu đồng/năm, song mức sẵn sàng chi trả phí vệ sinh đồng ruộng của các hộ nông nghiệp còn thấp do chưa có cơ chế thu phí chính thức.

Khi so sánh với kinh nghiệm thực tiễn tại huyện Quỳnh Lưu (Nghệ An) với mô hình lắp đặt 165 thùng bê tông thu gom rác nguy hại phủ kín 135 ha chuyên canh rau màu, hay mô hình tại huyện Đông Hưng (Thái Bình) ứng dụng chế phẩm Fito-Biomix RR xử lý rơm rạ tươi với chi phí 70.000 đồng/sào giúp tăng năng suất lúa từ 15% đến 20%, có thể thấy Đan Phượng hoàn toàn có tiềm năng nhân rộng các quy trình này. Về mặt trình bày số liệu, việc sử dụng các biểu đồ cột chồng đối chiếu khối lượng rác phát sinh theo từng loại cây trồng và bảng ma trận đánh giá hiệu quả giữa 6 phương pháp xử lý hữu cơ sẽ giúp các nhà hoạch định chính sách dễ dàng lượng hóa chi phí - lợi ích môi trường.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả nghiên cứu thực chứng, 4 nhóm giải pháp chiến lược được đề xuất nhằm nâng cao hiệu lực quản lý rác thải đồng ruộng tại huyện Đan Phượng:

  • Hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật và quy trình thu gom: Xây dựng mới và chuẩn hóa hệ thống bể chứa rác nguy hại đạt chuẩn kỹ thuật (có nắp đậy, đáy bê tông chống thấm) với mật độ tối thiểu 1 bể/3 ha canh tác tập trung; phấn đấu nâng tỷ lệ thu gom vỏ bao bì hóa chất nông nghiệp đạt 85% vào năm 2020 và đạt 98% vào năm 2025.
  • Chuyển giao công nghệ xử lý sinh học tại chỗ: Triển khai ứng dụng rộng rãi các chế phẩm vi sinh bản địa và chế phẩm sinh học như Fito-Biomix RR hoặc Trichoderma để ủ hoai hơn 30.000 tấn rơm rạ, phụ phẩm thân lá thành phân bón hữu cơ vi sinh; giảm tỷ lệ đốt rơm rạ bừa bãi xuống dưới 10% trong giai đoạn 2020 - 2025.
  • Kiện toàn tổ chức và cơ chế quản lý nhà nước: Ban hành quy chế phối hợp liên ngành giữa Phòng Tài nguyên và Môi trường, Phòng Kinh tế và Trạm Trồng trọt & BVTV huyện; bố trí tối thiểu 1 cán bộ chuyên trách công tác môi trường nông nghiệp tại mỗi xã, thị trấn và tổ chức 2 khóa tập huấn chuyên sâu hàng năm.
  • Đẩy mạnh truyền thông và xã hội hóa nguồn lực: Lồng ghép tiêu chí bảo vệ môi trường đồng ruộng vào quy ước làng văn hóa; huy động Hội Phụ nữ và Hội Nông dân thành lập các tổ tự quản thu gom rác định kỳ; trích lập quỹ bảo vệ môi trường cấp huyện để hỗ trợ 50% chi phí vận chuyển, xử lý rác thải nguy hại định kỳ hàng quý.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Cán bộ quản lý nhà nước tại UBND cấp huyện và xã: Cung cấp cơ sở dữ liệu thực tiễn và căn cứ pháp lý để lập quy hoạch hạ tầng bảo vệ môi trường nông thôn, xây dựng đề án nâng cao tiêu chí môi trường trong chương trình xây dựng nông thôn mới nâng cao.
  • Giảng viên, học viên và nhà nghiên cứu chuyên ngành Quản lý kinh tế và Kinh tế nông nghiệp: Cung cấp khung phân tích lý luận, phương pháp thiết kế mẫu 145 phiếu khảo sát và quy trình đánh giá định lượng các yếu tố tác động đến quản lý chất thải nông nghiệp.
  • Ban quản trị các Hợp tác xã nông nghiệp và chủ trang trại: Tham khảo hướng dẫn kỹ thuật ủ phụ phẩm cây trồng bằng chế phẩm vi sinh và quy trình tổ chức thu gom bao bì thuốc bảo vệ thực vật an toàn.
  • Các tổ chức chính trị - xã hội tại địa phương (Hội Nông dân, Hội Phụ nữ): Sử dụng các case study thực tế để xây dựng tài liệu tuyên truyền, phát động phong trào nông dân tự quản giữ sạch đồng ruộng.

Câu hỏi thường gặp

  • Khối lượng rác thải đồng ruộng phát sinh hàng năm tại huyện Đan Phượng là bao nhiêu? Theo kết quả khảo sát thực tế, mỗi năm địa bàn huyện Đan Phượng phát sinh trên 30.000 tấn phế phụ phẩm hữu cơ sau thu hoạch và hơn 5 tấn vỏ bao bì, chai lọ thuốc bảo vệ thực vật cùng phân bón vô cơ, đòi hỏi phải có quy trình thu gom và xử lý bài bản.

  • Tại sao phương pháp đốt rơm rạ truyền thống cần phải hạn chế và thay thế? Đốt rơm rạ lộ thiên làm mất gần 100% hàm lượng Nitơ và 25% Photpho trong phụ phẩm, gây thoái hóa đất canh tác. Đồng thời, quá trình đốt phát sinh lượng lớn khói bụi mịn và khí CO2, gây ô nhiễm không khí nghiêm trọng và ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe cộng đồng.

  • Thực trạng thu gom bao bì thuốc bảo vệ thực vật tại Đan Phượng đạt tỷ lệ ra sao? Công tác thu gom rác thải nguy hại trên đồng ruộng của huyện mới đạt khoảng 60%. Khoảng 40% lượng bao bì hóa chất còn lại vẫn tồn đọng tại các mương nước, bờ ruộng do thiếu mạng lưới thùng chứa chuẩn hóa và kinh phí vận chuyển xử lý định kỳ.

  • Cỡ mẫu và phương pháp điều tra của luận văn được thiết kế như thế nào? Nghiên cứu tiến hành khảo sát 145 mẫu thực địa, gồm 25 cán bộ chuyên môn từ cấp huyện đến xã và 120 hộ nông dân canh tác tại 4 xã đại diện cho 4 tiểu vùng sinh thái của Đan Phượng, đảm bảo tính đại diện và độ tin cậy khoa học cao.

  • Giải pháp kỹ thuật nào tối ưu nhất để tái chế rác thải hữu cơ đồng ruộng hiện nay? Ứng dụng công nghệ sinh học bằng cách sử dụng các chế phẩm vi sinh như Fito-Biomix RR để ủ rơm rạ thành phân hữu cơ ngay tại ruộng là giải pháp tối ưu, giúp rút ngắn thời gian phân hủy còn 25 - 30 ngày và tăng năng suất cây trồng vụ sau từ 15% đến 20%.

Kết luận

  • Hệ thống hóa hoàn chỉnh cơ sở lý luận và thực tiễn về công tác quản lý rác thải đồng ruộng trong bối cảnh tái cơ cấu kinh tế nông nghiệp.
  • Lượng hóa chính xác hiện trạng phát sinh trên 30.000 tấn phụ phẩm hữu cơ và hơn 5 tấn rác thải nguy hại mỗi năm tại huyện Đan Phượng giai đoạn 2015 - 2017.
  • Chỉ rõ những nút thắt trong công tác thu gom khi tỷ lệ bao bì hóa chất nông nghiệp được xử lý an toàn mới đạt khoảng 60%.
  • Đề xuất đồng bộ 4 nhóm giải pháp kỹ thuật, thể chế, tuyên truyền và tài chính với mục tiêu thu gom 98% rác nguy hại đến năm 2025.
  • Cung cấp nguồn tài liệu khoa học chuẩn xác, có giá trị ứng dụng cao cho các cấp chính quyền và cơ quan nghiên cứu môi trường nông thôn.

Các nhà quản lý, nhà nghiên cứu và bạn đọc quan tâm có thể tham khảo toàn văn luận văn thạc sĩ của tác giả Bùi Văn Trang tại Thư viện Học viện Nông nghiệp Việt Nam để tiếp cận chi tiết hệ thống bảng biểu phân tích và các bộ công cụ điều tra thực địa.