Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TÌNH TRẠNG SINH VIÊN BỎ HỌC TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƯƠNG THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 1. Một số khái niệm công cụ 1. Quan niệm về sinh viên bỏ học Sinh viên không tham gia một số tiết học hay một số buổi học trên giảng đường (bỏ giờ, bỏ tiết, bỏ buổi học) nhưng vẫn tham gia kỳ thi, vẫn trong sự quản lý của nhà trường, được coi là hành vi trốn học hay vắng mặt không lý do. Sinh viên bỏ học (thôi học) là hành vi có chủ định rời bỏ giảng đường, thoát ly khỏi môi trường học tập tập trung và không còn sự quản lý của nhà trường.
Hiện đang có những quan điểm khác nhau về vấn đề sinh viên vắng mặt, bỏ giờ, bỏ tiết (trốn học) và bỏ học (thôi học), thậm chí có những quan điểm trái ngược nhau về vấn đề sinh viên lên lớp hay vắng mặt trên lớp trong một buổi học, môn học. Thậm chí có quan điểm bênh vực cho hành động bỏ học ngành này để đi tìm học ngành khác phù hợp hơn với ý thích cá nhân. Có quan điểm cho rằng học tập ở bậc đại học là học về phương pháp, việc học là tự giác, ai cần thì lên lớp, ai có nhu cầu thì nghiên cứu tài liệu, thậm chí tự nghiên cứu tài liệu, không cần lên lớp đầy đủ trong tất cả các giờ học, chỉ cần nắm vững kiến thức đến kỳ thi đăng ký đi thi, miễn sao tích luỹ đủ số tín chỉ cần thiết là ra trường. Có quan điểm cho rằng việc tích lũy tri thức khoa học là liên tục và không giới hạn phạm vi, không gian, thời gian, có thể học từ xa, học qua mạng, và tự học, học qua sách vở tài liệu, hay đọc sách trên thư viện để tự nghiên cứu nên sinh viên không cần lên giảng đường tập trung đầy đủ tất cả các buổi học.
Quan điểm khác lại cho rằng sinh viên học tập trong cơ sở đào tạo, nhà trường phải quản lý chặt chẽ như trong môi trường quân đội, hay công an thì chất lượng mới được nâng cao, mới rèn cho các em tính kỷ luật, tinh thần 13 đồng đội, kỹ năng sống và kỹ năng làm việc nhóm. Trong thời gian sinh viên học tập tại trường đại học phải tập trung toàn bộ thời gian; sức lực để tiếp thu những tri thức khoa học; trang bị cho mình một lượng kiến thức tay nghề nhất định trước khi bước vào đời, hạn chế làm thêm kiếm tiền để sao nhãng việc học tập làm giảm chất lượng giáo dục và đào tạo [3, tr. Quan điểm này không sai, nhưng trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay chúng ta không thể quản lý hàng triệu sinh viên theo chế độ ký túc xá như thời bao cấp. Trước năm 1975, tất cả sinh viên sống trong ký túc xá, ăn ở sinh hoạt tập trung, biên chế theo tổ nhóm, lớp, khối, có sự quản lý chặt chẽ của nhà trường, hầu như không có hiện tượng sinh viên bỏ học.
Ngày nay sinh viên được tự do hơn so với trước đây, từ tư duy đến suy nghĩ và cả hành động, việc làm, nên việc sinh viên bỏ học trong những năm học ở bậc đại học là khó tránh khỏi. Bên cạnh đó, sinh viên bỏ học được cho là bình thường do chọn ngành nghề không phù hợp nên có ra trường sau này cũng khó phát triển, do áp lực về đời sống kinh tế quá lớn, do môi trường học tập không phù hợp. sinh viên ra đi để tìm một môi trường thích hợp hơn với khả năng, năng lực và sở trường của bản thân và không nhất thiết phải học đại học mới có thể bước vào đời. Trong xu thế xã hội hóa giáo dục toàn cầu, tình trạng sinh viên bỏ học ngày càng gia tăng chưa có dấu hiệu dừng lại và trở thành vấn đề nghiêm trọng được cả xã hội quan tâm.
Theo tác giả: Sinh viên bỏ học (thôi học) là hành vi có chủ định rời bỏ giảng đường, thoát ly khỏi môi trường học tập tập trung và không còn sự quản lý của nhà trường; hành vi đó để lại hệ lụy xấu cho nhà trường, gia đình và xã hội; làm ảnh hưởng đến kế hoạch đào tạo của nhà trường, gây lãng phí tiền bạc, thời gian, nguồn nhân lực của gia đình và xã hội. Hiện nay, sinh viên trong các trường đại học ngoài công lập thường lên giảng đường học tập và thực hành trong các phòng thí nghiệm với thời lượng 6 ngày một tuần. Một ngày có thể lên lớp tối thiểu 5 tiết và tối đa 10 tiết nhưng không bố trí hai ngày liên tiếp 10 tiết. Mỗi buổi học thường có điểm 14 danh, có ký xác nhận số tiết và số sinh viên tham gia của giảng viên và của lớp trưởng.
Đây là công việc bắt buộc để quản lý học tập, nếu sinh viên vắng quá 25% số tiết sẽ không được dự thi hết môn và phải đóng tiền học lại. [10] Trong quá trình học tập, sinh viên có những biểu hiện như bỏ một vài tiết học trong một buỗi học (về sớm trước khi ca học kết thúc) hoặc bỏ cả một buổi học (5 tiết) hoặc bỏ một môn học và xin học lại vào học kỳ hè. Có những trường hợp sinh viên thường bỏ 1-2 tiết cuối vào buổi chiều để về sớm đi làm thêm vào ban đêm, có trường hợp sinh viên trốn học đi quán, siêu thị, hay dùng thời gian vào những mối quan hệ khác… tất cả những trường hợp này ban đầu sinh viên không hề có ý định bỏ học (thôi học). Do việc vắng mặt trên giảng đường thường xuyên và sự tiếp thu bài không liên tục nên hổng kiến thức, kết quả học tập kém hoặc nợ môn.
Từ đó sinh viên phải thi lại lần hai mà thi lại lần hai phải đóng tiền phí thi lại, bên cạnh đó đề thi lại không hề dễ hơn thi lần một nên nhiều sinh viên thi lần hai vẫn không đạt yêu cầu và còn nợ môn. Cơ hội trả nợ khi nợ môn là không dễ vì các học kỳ được bố trí liên tục không còn nhiều thời gian để học lại môn trả nợ ngoại trừ học kỳ hè. Một số sinh viên không có tiền đóng học phí mặc dù vẫn lên lớp nhưng bị cấm thi do chưa hoàn thành nghĩa vụ tài chính với nhà trường nên các môn chưa có điểm vẫn bị tính là nợ môn. Trong một vài học kỳ như thế những sinh viên này có số môn nợ ngày càng tăng và khả năng trả hết nợ là rất khó từ đó dẫn đến các em chán nản, bi quan và bỏ học luôn.
Một số em muốn thi lại vào năm sau để chuyển sang một ngành khác nên tự ý bỏ môn học để tập trung ôn thi đại học dù kết quả thế nào thì các em cũng nợ môn và hậu quả là bỏ học. Một số em kiếm được những công việc làm thêm có thu nhập nhưng phải trả giá bằng việc bỏ buổi học bỏ tiết học, từ tư duy có ra trường kiếm được việc làm thì thu nhập cũng không hơn hiện tại mà lại phải học hành vất vả nên các em chủ động bỏ học để đi làm. 15 Tất cả những hành vi trên là các biểu hiện ban đầu dẫn tới các em bỏ học. Phần lớn sinh viên có biểu hiện ban đầu chỉ bỏ giờ bỏ tiết sau bỏ cả buổi học và bỏ cả môn học và cuối cùng là bỏ học luôn, thoát ly khỏi sự quản lý của nhà trường.
Khái niệm biện pháp khắc phục hành vi bỏ học của sinh viên Theo từ điển Tiếng Việt, biện pháp là: “Cách làm, cách giải quyết một vấn đề cụ thể” [43, tr. Còn theo Từ Điển Bách Khoa Việt Nam thì biện pháp là “Tìm cách thức nào đó để hành động và giải quyết vấn đề đã được đặt ra” [19, tr. Cả hai định nghĩa trên tuy khác nhau về thuật ngữ, nhưng về cơ bản đều thống nhất về nội hàm của biện pháp, đó là tìm cách để giải quyết vấn đề đã nêu ra. Hiện tượng sinh viên bỏ học là một vấn đề đã và đang diễn ra theo chiều hướng ngày càng gia tăng, nhất là đối với những trường ngoài công lập.
Việc bỏ học của sinh viên là hành vi có chủ định, có nhận thức chứ không phải ngẫu nhiên với những hình thức và biểu hiện khác nhau. Ban đầu các em chỉ bỏ giờ học, tiết học sau đó là bỏ cả buổi học thậm chí có em bỏ nguyên cả một tuần, hậu quả là điểm thi không đạt yêu cầu phải thi lại, thi lại không qua phải nợ môn và cuối cùng là bi quan chán nản rồi bỏ học luôn. Tình trạng sinh viên bỏ học thường diễn ra ở những năm đầu (học kỳ 2, 3, 4) sang các năm sau hiện tượng bỏ học ít xảy ra hơn. Nghiên cứu, tìm kiếm biện pháp ngăn chặn, khắc phục tình trạng sinh viên bỏ học là vấn đề rất được quan tâm của nhà trường, gia đình và của các nhà khoa học.
Từ cách tiếp cận trên đây, chúng tôi cho rằng, biện pháp khắc phục tình trạng sinh viên bỏ học là tổng thể những cách thức mà nhà trường, gia đình, xã hội, tiến hành để ngăn chặn hành vi bỏ học của sinh viên; thúc đẩy các em hăng say học tập thực hiện tốt mục tiêu yêu cầu đào tạo của khóa học. Ngăn ngừa, khắc phục tình trạng sinh viên bỏ học được thực hiện bằng nhiều cách thức khác nhau. Dưới góc độ khoa học quản lý giáo dục, đó là những cách thức mà chủ thể quản lý đưa ra và sử dụng để quản lý ngăn chặn hành vi bỏ học của sinh viên; thúc đẩy các em hăng say học tập thực hiện tốt mục tiêu yêu cầu đào tạo của khóa học. 16 Việc ngăn ngừa, khắc phục tình trạng bỏ học của sinh viên được thực hiện bằng nhiều cách thức khác nhau như: sử dụng các biện pháp hành chính, sử dụng các biện pháp tâm lý - giáo dục, các biện pháp động viên khuyến khích, biện pháp kinh tế.
cũng có thể sử dụng tổng hợp các biện pháp trên, kết hợp với các biện pháp mang tính chính sách xã hội ở tầm vĩ mô để khắc phục tình trạng bỏ học của các em. Ảnh hưởng của tình trạng sinh viên bỏ học và các nhân tố tác động dẫn đến sinh viên bỏ học 1. Ảnh hưởng của tình trạng sinh viên bỏ học đối với gia đình, nhà trường, xã hội Việc sinh viên bỏ học là một vấn đề nhức nhối của gia đình, nhà trường và xã hội, diễn ra khá âm thầm lặng lẽ trong môi trường giáo dục, hệ luỵ của nó vô cùng nghiêm trọng.