CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH 1.1 Đánh giá tổ chức quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình ở Việt Nam 1. Những khái niệm dự án đầu tư xây dựng công trình Theo ngân hàng thế giới (WB): Dự án đầu tư xây dựng là tổng thể các chính sách, các hoạt động và các chi phí có liên quan với nhau được hoạch định trước nhằm đạt được những mục tiêu nhất định trong một khoảng thời gian nhất định. Ơ Việt Nam, khái niệm dự án đầu tư được trình bày trong nghị định 52 /1999/NĐ-CP về quy chế quản lý đầu tư và xây dựng cơ bản : “ Dự án đầu tư là tập hợp các đề xuất có liên quan tới việc bỏ vốn để tạo vốn, mở rộng hoặc cải tạo những cơ sở vật chất nhất định nhằm đạt được sự tăng trưởng về số lượng hoặc duy trì, cải tiến, nâng cao chất lượng của sản phẩm hoặc dịch vụ trong khoảng thời gian nhất định”. Thông qua việc nghiên cứu , tham khảo một số tài liệu và văn bản của Nhà nước tác giả nhận thấy: Thuật ngữ “Dự án đầu tư”Trong các văn bản pháp luật của Việt Nam và nhiều công trình nghiên cứu đã được công bố trong nước được sử dụng khá phổ biến.
Dự án đầu tư, về mặt bản chất, có thể hiểu là một chương trình hay kế hoạch chi tiết của hoạt động đầu tư – Hoạt động bỏ vốn đầu tư ( chi phí) để tạo nên đối tượng đầu tư ( vật chất hay tài chính) để thông qua quá trình vận hành, khai thác đối tượng đầu tư có thể đạt được những lợi ích mong muốn ( mục đích đầu tư). Mục đích đầu tư cũng chính là mục tiêu kết quả cần đạt tới của dự án đầu tư. Mục tiêu của dự án đầu tư luôn phản ánh lợi ích cần đạt được, các lợi ích này có thể là lợi ích về tài chính, về kinh tế xã hội và môi trường hoặc đồng thời các lợi ích đó. Đối với dự án đầu tư, ngoài các đặc điểm chung của dự án như đã nói ở trên còn có những đặc điểm riêng, đó là tính dàu hạn và tính rủi ro cao, Một dự án đầu tư thường có thời gian tồn tại khá dài nhiều năm, bao gồm thời gian tạo dựng lên đối tượng đầu tư và thời gian khai thác đối tượng đầu tư ( thời gian vận hành Dự án đầu tư).
Do đó, Dự án đầu tư thường được hình thành và triển khai trong những điều kiện rủi ro bởi tính dài hạn của hoạt động đầu tư. 3 Dự án đầu tư có thể xem xét từ nhiều góc độ khác nhau: - Về mặt hình thức: Dự án đầu tư là một tập hồ sơ tài liệu trình bày một cách chi tiết có hệ thống các hoạt động và chi phí theo một kế hoạch để đạt được những kết quả và thực hiện những mục tiêu nhất định trong tương lai. - Về mặt nội dung: Dự án đầu tư là một tập hợp các hoạt động có liên quan với nhau nhằm đạt được những mục đích đã đề ra thông qua nguồn lực đã xác định như vấn đề thị trường, sản phẩm, công nghệ, kinh tế , tài chính… - Về phương diện lý luận: DAĐT xây dựng công trình được hiểu là các DAĐT mà đối tượng đầu tư là công trình xây dựng, nghĩa là dự án có liên quan đến hoạt động xây dựng cơ bản như xây dựng nhà cưa, đường sắt, cầu cống…. Vậy, DAĐT phải nhằm việc sử dụng có hiệu quả các yếu tố đầu vào để thu được đầu ra phù hợp với những mục tiêu cụ thể.
Đầu vào là lao động, nguyên vật liệu, đất đai, tiền vốn… Đầu ra là các sản phẩm dịch vụ hoặc là sự giảm bớt đầu vào. Sử dụng đầu vào được hiểu là sử dụng các giải pháp kỹ thuật công nghệ, biện pháp tổ chức quản trị và các luật lệ… 1. Phân loại dự án đầu tư xây dựng công trình Dự án đầu tư XDCT thường được phân loại theo quy mô đầu tư, theo tính chất công trình xây dựng của dự án, theo nguồn vốn hay phân loại theo hình thức đầu tư. a, Phân loại dự án đầu tư XDCT theo quy mô đầu tư[1]: Tùy theo tính chất của dự án và quy mô đầu tư, dự án đầu tư trong nước được phân loại thành: Dự án quan trọng quốc gia, dự án nhóm A, dự án nhóm B, dự án nhóm C.
Tiêu chí chủ yếu để phân nhóm dự án là tổng mức đầu tư bên cạnh đó còn căn cứ vào tầm quan trọng của lĩnh vực đầu tư, nội dung cụ thể tại Khoản 2 Điều 6. Phân loại dự án đầu tư công trong Luật đầu tư công số: 49/2014/QH13 ngày 18 tháng 06 năm 2014 của Quốc Hội. b, Phân loại dự án đầu tư XDCT theo tính chất công trình xây dựng[1]: 4 Theo Nghị đinh 46/2015/NĐ-CP về quản lý chất lượng và bảo trì công trình xây dựng ngày 12 tháng 05 năm 2015 của Chính Phủ, căn cứ theo công năng sử dụng, công trình được phân thành các loại như sau: -Công trình dân dụng; - Công trình công nghiệp; - Công trình giao thông; - Công trình nông nghiệp và phát triển nông thôn; - Công trình hạ tầng kỹ thuật; - Công trình quốc phòng, an ninh. c, Phân loại dự án đầu tư XDCT theo nguồn vốn đầu tư[1]: Vốn đầu tư XDCT có nhiều nguồn khác nhau, do đó có nhiều cách phân loại chi tiết khác nhau theo nguồn vốn đầu tư như: Phân loại theo nguồn vốn trong nước và nước ngoài; phân loại nguồn vốn nhà nước và nguồn vốn ngoài nhà nước; phân loại theo nguồn vốn đơn nhất( sử dụng một nguồn vốn duy nhất) và nguồn vốn hỗn hợp….
Tuy nhiên trong thực tế quản lý, phân loại DAĐT XDCT theo cách thức quản lý vốn được sử dụng phổ biến hơn. Theo cách phân loại này, DAĐT XDCT được phân thành: Các dự án sử dụng vốn ngân sách Nhà nước: - Các dự án kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh không có khả năng thu hồi và được quản lý sử dụng theo phân cấp về chi ngân sách Nhà nước cho đầu tư phát triển - Chi cho công tác điều tra, khảo sát, lập các dự án quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng, lãnh thổ, quy hoạch xây dựng đô thị và nông thôn khi được Thủ tướng Chính phủ cho phép. - Cho vay của Chính phủ để đầu tư phát triển. 5 - Hỗ trợ các dự án của các doanh nghiệp đầu tư vào các lĩnh vực cần có sự tham gia của Nhà nước theo quy định của pháp luật.
- Vốn khấu hao cơ bản và các khoản thu của Nhà nước để lại cho doanh nghiệp Nhà nước để đầu tư. Các dự ánđầu tư thuộc các nguồn vốn khác. Các dự án của các cá nhân, các tổ chức kinh tế xã hội đầu tư dưới nhiều hình thức huy động vốn khác nhau được cấp có thẩm quyền cho phép. d, Phân loại dự án đầu tư XDCT theo hình thức đầu tư[1]: Theo cách phân loại này, dự án đầu tư XDCT được phân thành dự án đầu tư xây dựng công trình; dự án đầu tư sửa chữa, cải tạo hoặc dự án đầu tư mở rộng, nâng cấp công trình.
Các hình thức tổ chức quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình sử dụng vốn nhà nước theo quy định của pháp luật hiện hành Qua các thời kỳ phát triển, các cơ quan QLNN, các Chủ đầu tư ở nước ta đã thể hiện sự quan tâm đặc biệt đến quản lý đầu tư XDCT, vì nó quyết định đến tiến độ, chi phí, CLCT góp phần quan trọng đối với tốc độ tăng trưởng kinh tế và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người dân. Nhà nước đã hoàn thiện các Luật các Nghị định, Thông tư, các Văn bản về quản lý ĐTXD và quản lý CLCT xây dựng từ Trung ương đến địa phương theo một số mô hình quản lý khác nhau. Theo tham khảo các hoạt động quản lý về xây dựng của các nước phát triển so với việc quản lý thực tại ở Việt Nam có thể thấy những văn bản pháp quy, các chủ trương chính sách, biện pháp quản lý ở nước ta khá đầy đủ. Chỉ cần các tổ chức từ cơ quan QLNN, các chủ thể tham gia xây dựng thực hiện chức năng của mình một cách có trách nhiệm theo đúng trình tự quản lý thì công trình sẽ đảm bảo chất lượng và đem lại hiệu quả đầu tư.
Các văn bản trên quy định: Chính phủ thống nhất QLNN vê XDCT trên phạm vi cả nước; Bộ xây dựng thống nhất QLNN về XDCT trong phạm vi cả nước; các bộ có quản lý CTXD chuyên ngành phối hợp với Bộ xây dựng trong việc QLNN; UBND cấp 6 tỉnh theo phân cấp có trách nhiệm QLNN về xây dựng trên địa bàn thep phân cấp của Chính phủ. Hiện nay, theo luật Xây dựng 2014 và nghị định 59/2015/NĐ-CP quy định có các hình thức quản lý dự án sau:Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng chuyên ngành và Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng một dự án.Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng dự án quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình sử dụng vốn ngân sách nhà nước Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng quản lý dự án đầu tư XDCT là những yếu tố có tác động đến các hoạt động quản lý dự án đầu tư XDCT, qua đó ảnh hưởng đến chất lượng đạt được của dự án. Chất lượng quản lý dự án đầu tư XDCT chịu sự ảnh hưởng của các yếu tố sau: - Các quy định pháp luật Dự án chịu sự rằng buộc của các quy định pháp luật, do đó các quy định của pháp luật có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng quản lý dự án. Việc quản lý dự án phải tuân theo các quy định của pháp luật có liên quan.
Các quy định pháp luật có thể chi phối đến các nguồn lực của dự án như chi phí, thời gian thực hiện dự án. - Môi trường của dự án: Ảnh hưởng của môi trường dự án đến chất lượng quản lý dự án gồm các tác động về chính trị, pháp luật, kinh tế, xã hội, tự nhiên,… đến các hoạt động quản lý dự án. Những tác động này có thể ảnh hưởng tốt hoặc xấu đến các hoạt động quản lý dự án làm cho chất lượng của dự án bị ảnh hưởng.