Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CHƯƠNG TRÌNH BỐ TRÍ DÂN CƯ VÙNG THIÊN TAI 1. Một số khái niệm cơ bản về bố trí dân cư: 1. Di cư Di cư được hiểu theo hai nghĩa khác nhau: Thứ nhất, di cư là hiện tượng di chuyển của bầy đàn để đảm bảo cuộc sống và sự sinh tồn của giống, loài như chim, thú.trong tự nhiên. Thứ hai, di cư là hiện tượng người dân di chuyển từ nơi này tới nơi khác để sinh sống.
Di cư theo nghĩa này được hiểu đồng nghĩa với khái niệm di dân. Từ khái niệm này chúng ta có thêm các khái niệm về nơi xuất cư và nơi nhập cư. - Nơi xuất cư hay còn gọi là đầu đi: là nơi cư trú của người dân trước khi di chuyển đến nơi ở mới, đó có thể là thôn, xã, huyện, tỉnh hoặc quốc gia tuỳ theo các hình thức di dân khác nhau. Người dân di chuyển khỏi địa bàn đang sinh sống được gọi là dân xuất cư.
- Nơi nhập cư hay còn gọi là đầu đến: là nơi đón dân đến định cư, đối với những người dân đến định cư lâu dài và ổn định thì đó là quê hương mới của họ. Di dân Có hai nhóm định nghĩa chủ yếu: di dân theo nghĩa rộng và di dân theo nghĩa hẹp. - Thứ nhất, theo nghĩa rộng: Di dân được hiểu đồng nhất với khái niệm "sự vận động của dân cư" nghĩa là bất cứ hay toàn bộ sự di chuyển nào của con người trong không gian đều gọi là di dân. Theo Baranov và Breer Philipguest (1998), Động lực di dân nội địa ở Việt Nam (tr.
26;6) thì "Di dân hiểu theo nghĩa rộng là bất kỳ một sự 6 di chuyển nào của con người giữa các lãnh thổ có gắn với sự thay đổi vị trí, dạng hoạt động lao động và ngành có sử dụng lao động " Tác giả V. Burbridge (1991), Chỉ nam môi trường cho dự án tái định cư ở vùng nhiệt đới ẩm (tr.26;8) định nghĩa:" Di dân được hiểu là một sự thay đổi vị trí con người về mặt địa lý do có sự thay đổi thường xuyên hoặc tạm thời của họ, từ một cộng đồng kinh tế xã hội này sang cộng đồng kinh tế xã hội khác hoặc có sự thay đổi vị trí không gian của toàn bộ cộng đồng nói chung" Nhìn chung, các tác giả trên coi di dân là sự chuyển động trong không gian của con người gắn với mục đích di chuyển nên khó phân biệt được tính đặc thù của di dân trong tổng thể di chuyển giữa các vùng lãnh thổ. Do vậy, định nghĩa di dân theo nghĩa rộng có thể quy tụ sự xáo trộn của con người có liên quan đến "sự chuyển động cơ học" của dân cư. Cách hiểu đó không tính hết được khoảng cách, thời gian, mục đích di chuyển và phạm vi lãnh thổ và nơi định cư cụ thể.
- Thứ hai, theo nghĩa hẹp: Người ta quan niệm: "Di dân là sự di chuyển của con người gắn liền với sự thay đổi chỗ ở thường xuyên, cố định của họ, thay đổi vị trí môi trường từ nơi đi đến nơi đến trong khoảng thời gian nhất định nào đó". Tuỳ vào mức độ thời gian và tính liên tục mà di dân giữa các vùng có hình thức trở lại hoặc không trở lại nơi ở cũ. Năm 1958, Liên hiệp quốc định nghĩa di dân như sau: Ngân hàng Phát triển Châu Á "ADB" (2004) Cẩm nang về tái định cư, hướng dẫn thực hành (tr.26;10)" Di dân là một hình thức di chuyển trong không gian của con người giữa một đơn vị địa lý hành chính này và một đơn vị địa lý hành chính khác, kèm theo sự thay đổi chỗ ở thường xuyên trong khoảng thời gian xác định" Như vậy, khái niệm di dân theo nghĩa hẹp theo định nghĩa của Liên hiệp quốc đã loại ra được những người sống lang thang, dân du mục, di dân theo mùa và di dân theo kiểu con lắc (đi về hàng ngày). 7 Trong điều tra dân số ở các nước cũng như nước ta, di dân được xác định là người thay đổi chỗ ở thường xuyên từ đơn vị hành chính này sang đơn vị hành chính khác.
Nhìn chung ở đa số các nước số người rời cư ra khỏi giới hạn hành chính của một thành phố, tỉnh, huyện (quận) được coi là di dân. Các khái niệm di dân theo nghĩa hẹp sẽ là cơ sở cho việc xác định di dân, tái định cư trong đề tài này. Theo các nhà nghiên cứu và thực tế ở nước ta có thể hiểu di dân theo khái niệm chung nhất là sự chuyển dịch dân cư theo không gian và thời gian nhằm đạt được những mục tiêu nhất định. Có 3 tiêu chí để xác định di dân: - Về không gian: tiêu chí này yêu cầu các đối tượng di dân phải có sự thay đổi nơi cư trú từ nơi ở cũ (nơi xuất cư) đến nơi ở mới (nơi nhập cư).
Nơi xuất cư và nơi nhập cư có thể trong cùng một cấp hành chính hoặc khác nhau về các cấp hành chính trong một quốc gia và cũng có thể khác nhau cả về quốc gia, châu lục. - Về thời gian: các đối tượng di dân phải đến định cư ở nơi mới trong một thời gian nhất định tuỳ theo mục đích di chuyển của người dân. - Về mục đích: các đối tượng di dân đều phải có mục đích rõ ràng, cụ thể. Mục đích đó có thể là kinh tế, chính trị hoặc tôn giáo.
Phân loại di dân Di dân được phân thành nhiều loại khác nhau căn cứ vào các tiêu chí của di dân 1. Theo tiêu chí về không gian - Di dân nội tỉnh: là hình thức di chuyển của dân cư trong phạm vi hành chính của một tỉnh, bao gồm: + Di dân ngoại huyện: là hình thức di chuyển của dân cư từ huyện này sang huyện khác trong phạm vi một tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. + Di dân nội huyện: là hình thức di chuyển của dân cư từ xã này sang xã khác trong phạm vi một huyện. 8 + Dãn dân: ( Di dân xen ghép)là hình thức di chuyển của dân cư trong phạm vi một vùng dự án hoặc một xã nhất định.
Dãn dân cũng là một hình thức di dân nội huyện. - Di dân ngoại tỉnh: là hình thức di chuyển của dân cư từ tỉnh này sang tỉnh khác trong phạm vi của một quốc gia hoặc vùng lãnh thổ, bao gồm: + Di dân nội miền: là hình thức di chuyển dân cư từ tỉnh này sang tỉnh khác trong phạm vi của một miền nhất định thuộc một quốc gia hoặc vùng lãnh thổ. Như ở nước ta di dân nội miền được hiểu là di dân giữa các tỉnh, thành phố từ Thừa Thiên - Huế trở ra phía bắc (thuộc Miền Bắc), hoặc giữa các tỉnh, thành phố từ Đà Nẵng trở vào (thuộc Miền Nam). Di dân gồm có di dân tự do (còn gọi là di dân tự phát) và di dân có tổ chức (di dân theo kế hoạch).
- Di dân tự do: là hiện tượng di dân do một người, một hộ gia đình hoặc nhóm hộ tự thực hiện, không theo một phương án, chương trình và sự quản lý, điều hành của bất kỳ một cơ quan hoặc tổ chức nào. - Di dân có tổ chức: là việc di dân được thực hiện theo một chương trình, dự án và kế hoạch cụ thể của một chủ thể quản lý nhất định (Nhà nước, địa phương, ngành hoặc tổ chức). Phân loại di dân sẽ giúp cho việc xây dựng các chính sách và xác định các hình thức quản lý phù hợp và hiệu quả. Tuy nhiên trong thực tế, các hình thức di dân có quan hệ chặt chẽ và tác động lẫn nhau, đồng thời có những biểu hiện khác nhau trong những điều kiện cụ thể.
Do đó sự phân chia trên cũng chỉ có ý nghĩa tương đối. Hoạt động di dân Hoạt động di dân là toàn bộ hoạt động nhằm thực hiện việc đưa người dân đến nơi định cư mới và ổn định cuộc sống cho họ, hay nói cách khác đó 9 là tổng thể các biện pháp nhằm tạo ra những môi trường để thực hiện việc di dân phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế xã hội của cả nước, các vùng xuất - nhập cư và đáp ứng được những yêu cầu cơ bản của người dân di cư. Ở nước ta di dân nông nghiệp chiếm vai trò chủ đạo nhằm khai thác tiềm năng đất đai, giải quyết việc làm và phân bố lại lao động dân cư theo lãnh thổ, do đó chính sách di dân chủ yếu hướng vào đối tượng này, còn các đối tượng di dân khác cũng được điều chỉnh bằng chính sách chung và đặc thù của từng thời kỳ, từng địa phương. Hoạt động di dân được thể hiện trên các mặt cơ bản sau: - Hệ thống các văn bản điều chỉnh hoạt động di dân nói chung và di dân mang tính đặc thù của từng thời điểm, từng địa phương.
- Hình thức tổ chức: hiện nay chủ yếu tập trung vào hình thức di dân có tổ chức, nghĩa là di dân theo kế hoạch của các chương trình, dự án. - Chính sách đảm bảo thực hiện: bao gồm chính sách liên quan đến sở hữu tư liệu sản xuất và quyền sử dụng đất, chính sách khuyến khích phát triển sản xuất ở nơi đến nhằm nhanh chóng ổn định cuộc sống cho người dân mới đến (thuế, tín dụng,.), chính sách đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, chính sách hỗ trợ di chuyển v. - Các biện pháp chủ yếu để tổ chức thực hiện. Quy trình thực hiện công tác bố trí dân cư 1.
Công tác quy hoạch Quy hoạch nói chung là bản luận chứng khoa học về chủ trương phát triển và tổ chức không gian hợp lý của vùng, ngành, lĩnh vực và theo đó quy hoạch có 2 nhiệm vụ: (1) Dự báo phát triển; (2) Tổ chức không gian lãnh thổ. Quy hoạch bố trí dân cư được hiểu là bản luận chứng khoa học về chủ trương, kế hoạch bố trí dân cư theo các đối tượng di dân và tổ chức không gian hợp lý các điểm dân cư gắn với phát triển sản xuất, xây dựng kết cấu hạ tầng và ổn định đời sống dân cư trên một địa bàn. 10 Những đặc trưng cơ bản của quy hoạch bố trí dân cư Đặc trưng cơ bản của quy hoạch là một quá trình hành động có trọng điểm cho từng thời kỳ, đề cập nhiều phương án, thường xuyên cập nhật bổ sung, lựa chọn nhiều giải pháp và thường xuyên điều chỉnh nhiều lần.