CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. TỔNG QUAN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái niệm về tín dụng và rủi ro tín dụng ngân hàng 1. Khái niệm về tín dụng ngân hàng Trong một quan hệ tài chính cụ thể, tín dụng là giao dịch về tài sản trên cơ sở có hoàn trả giữa hai chủ thể.
Xét trên góc độ xem xét tín dụng như một chức năng cơ bản của ngân hàng, trong Giáo trình Tiền tệ - Ngân hàng, GS.TS Nguyễn Văn Tiến (2012) định nghĩa: Tín dụng là một giao dịch về tài sản (tiền và hàng hóa) giữa bên cho vay (ngân hàng và các định chế tài chính khác) và bên đi vay (cá nhân, doanh nghiệp và các chủ thể khác), trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời hạn nhất định theo thỏa thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán. Từ khái niệm trên, bản chất tín dụng là một giao dịch về tài sản trên cơ sở hoàn trả và có bốn đặc trưng sau: - Tín dụng dựa trên cơ sở lòng tin, đây được coi là điều kiện tiên quyết để thiết lập quan hệ tín dụng. - Tín dụng có tính hoàn trả, đây là đặc trưng cơ bản nhất, hoàn trả là tiêu chuẩn phân biệt quan hệ tín dụng với các quan hệ tài chính khác. - Tín dụng có tính thời hạn - Tín dụng ẩn chứa nhiều khả năng rủi ro.
Khái niệm về rủi ro tín dụng Rủi ro tín dụng là khoản lỗ tiềm tàng khi ngân hàng cấp các khoản tín dụng. 8 Là những thiệt hại, mất mát mà ngân hàng gánh chịu do người vay vốn hay người sử dụng vốn không trả đúng hạn, không thực hiện đúng nghĩa vụ cam kết trong hợp đồng tín dụng. Theo quan niệm của Ủy ban Basel (2000) thì, "rủi ro tín dụng là khả năng khách hàng vay hoặc bên đối tác của ngân hàng không thực hiện đúng cam kết đã thỏa thuận”. Theo khái niệm này, rủi ro tín dụng có phạm vi khá rộng, không chỉ trong quan hệ tín dụng giữa ngân hàng với khách hàng mà trong các hoạt động khác như đầu tư, phái sinh.mà ngân hàng thực hiện.
Tại Điều 3, Thông tư số 02/2013/TT-NHNN ngày 22 tháng 01 năm 2013, nêu rõ "rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng là tổn thất có khả năng xảy ra đối với các khoản nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết". Trong kinh doanh ngân hàng, rủi ro có xu hướng tập trung chủ yếu vào danh mục tín dụng, đây là loại rủi ro không loại bỏ hoàn toàn ra khỏi hoạt động tín dụng, là rủi ro lớn nhất, thường xuyên xảy ra và gây hậu quả nặng nề có khi dẫn đến phá sản. Ngân hàng cần có phương thức quản lý rủi ro tín dụng hiệu quả và giải pháp đồng bộ hữu hiệu để có thể ngăn ngừa và hạn chế tối đa những thiệt hại có thể xảy ra cho ngân hàng. Phân loại rủi ro tín dụng a.
Căn cứ vào nguyên nhân phát sinh Căn cứ vào nguyên nhân, rủi ro tín dụng chia thành hai loại: - Rủi ro giao dịch là hình thức rủi ro mà nguyên nhân phát sinh do những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng. Rủi ro giao dịch có 03 bộ phận: + Rủi ro lựa chọn: là rủi ro có liên quan tới quá trình đánh giá và phân tích tín dụng, khi ngân hàng lựa chọn những phương án vay vốn có hiệu quả để ra quyết định cho vay. 9 Rủi ro tín dụng Rủi ro Rủi ro giao dịch danh mục Rủi ro Rủi ro Rủi ro Rủi ro Rủi ro lựa chọn bảo đảm nghiệp nội tại tập trung vụ Sơ đồ 1.1: Phân loại rủi ro tín dụng căn cứ vào nguyên nhân + Rủi ro bảo đảm: là rủi ro phát sinh từ các tiêu chuẩn bảo đảm như điều kiện trong hợp đồng cho vay, các loại tài sản đảm bảo, chủ thể bảo đảm, cách thức đảm bảo và mức cho vay trên giá trị tài sản đảm bảo. + Rủi ro nghiệp vụ: là rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay và hoạt động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật xử lý các khoản vay có vấn đề.
- Rủi ro danh mục là hình thức rủi ro mà nguyên nhân phát sinh do những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của ngân hàng. Rủi ro danh mục chia thành 02 loại: + Rủi ro nội tại: xuất phát từ các yếu tố, đặc điểm riêng có, mang tính riêng biệt bên trong của mỗi chủ thể đi vay hoặc ngành nghề lĩnh vực kinh tế. Nó xuất phát từ đặc điểm hoạt động hoặc đặc điểm sử dụng vốn của khách hàng vay. + Rủi ro tập trung: là rủi ro do ngân hàng tập trung vốn cho vay quá nhiều đối với một số khách hàng, cho vay quá nhiều doanh nghiệp hoạt động trong cùng một ngành, lĩnh vực kinh tế, hay trong cùng một vùng địa lý nhất định hoặc cùng một loại hình cho vay có rủi ro cao.
Căn cứ vào khả năng trả nợ Sơ đồ 1.2: Phân loại rủi ro tín dụng căn cứ vào khả năng trả nợ Xét về khía cạnh thời gian và số lượng, rủi ro tín dụng gồm hai loại: - Rủi ro đọng vốn: là rủi ro khi khách hàng không thể trả nợ đúng hạn đã thỏa thuận với ngân hàng bao gồm vốn gốc và/hoặc lãi vay. - Rủi ro mất khả năng chi trả: là rủi ro khi khách hàng không hoàn trả một phần hay toàn bộ khoản tín dụng. Các khoản nợ thuộc loại rủi ro này khó thu hồi, là gánh nặng thực sự với ngân hàng. Căn cứ phạm vi của RRTD - Rủi ro cá biệt là rủi ro tín dụng xảy ra đối với một khoản vay của một khách hàng cụ thể, thuộc một nhóm ngành cụ thể.
Rủi ro tín dụng cá biệt xảy ra do một số nguyên nhân: + Đặc điểm ngành và loại hình kinh tế của khách hàng; + Tình hình tài chính của khách hàng; + Khả năng quản trị của khách hàng; + Đạo đức khách hàng; + Các nguyên nhân khác. - Rủi ro hệ thống là rủi ro xảy ra không chỉ đối với một ngân hàng mà mang tính chất hệ thống, lan truyền đến toàn hệ thống ngân hàng. Nguyên nhân của rủi ro hệ thống bao gồm: thay đổi chính sách tài chính tiền tệ, chính sách thuế, chính sách xuất nhập khẩu. Các yếu tố vĩ mô của nền kinh tế ảnh hưởng đến rủi ro hệ thống bao gồm: Tỷ lệ lạm phát, tỷ lệ thất nghiệp, GDP, chỉ số chứng khoán, chỉ số giá tiêu dùng; luật pháp và môi trường đầu tư và các yếu tố bất khả kháng.
11 Để hạn chế rủi ro này, ngân hàng cần thực hiện tốt công tác dự báo tình hình kinh tế vĩ mô, các tác động của lạm phát, thất nghiệp, các chính sách sắp tới của Chính phủ và chủ động đưa ra các giải pháp quản trị rủi ro phù hợp… d. Căn cứ nguyên nhân khách quan hay chủ quan Rủi ro khách quan là rủi ro do nguyên nhân khách quan như thiên tai, dịch họa, người vay chết mất tích và các biến số bất khả kháng khác làm thất thoát tín dụng trong khi khách hàng và ngân hàng đã thực hiện đúng quy trình, chính sách tín dụng cũng như những nội dung quy định trong hợp đồng tín dụng. Rủi ro chủ quan là rủi ro do nguyên nhân thuộc về chủ quan khách hàng và ngân hàng vì vô tình hay cố ý làm thất thoát vốn vay hay vì lý do chủ quan khác. Căn cứ vào giai đoạn phát sinh rủi ro Rủi ro trước khi cho vay: rủi ro xảy ra trong khâu lập hồ sơ và phân tích tín dụng dẫn đến quyết định cho vay các khách hàng không đủ điều kiện và không có khả năng trả nợ trong tương lai.
Rủi ro trong khi cho vay: rủi ro xảy ra trong quy trình giải ngân. Các nguyên nhân dẫn đến rủi ro này gồm sai sót trong giải ngân, giải ngân không đúng tiến độ, không cập nhật thông tin khách hàng thường xuyên hay không dự báo được rủi ro tiềm năng. Rủi ro sau khi cho vay: rủi ro xảy ra khi ngân hàng không nắm tình hình và mục đích sử dụng vốn vay, thay đổi trong khả năng tài chính cũng như thiện chí trả nợ của khách hàng. Nguyên nhân phát sinh rủi ro tín dụng * Nguyên nhân khách quan - Môi trường chính trị xã hội Đây là môi trường có ảnh hưởng nhiều đến hoạt động tín dụng của ngân hàng.
Nếu tình hình chính trị xã hội không ổn định, cả khách hàng và ngân hàng cũng khó có thể yên tâm tập trung vào đầu tư, mở rộng kinh doanh, đặc biệt là mở rộng tín dụng. 12 - Môi trường tự nhiên Rủi ro do những diễn biến bất lợi của môi trường tự nhiên (như biến động lớn về thời tiết, khí hậu) là loại rủi ro bất khả kháng, tác động xấu tới phương án đầu tư của khách hàng và khi nó xảy ra thường đem lại thiệt hại lớn cho đơn vị kinh doanh và cho các ngân hàng tài trợ. Khách hàng khó có nguồn trả nợ ngân hàng, từ đó gây ra rủi ro tín dụng. - Môi trường pháp lý Sự thay đổi thể chế, luật pháp,.có thể đe dọa tới khả năng tồn tại và phát triển của các ngành.
Môi trường pháp lý thiếu chặt chẽ, nhiều khe hở và bất cập sẽ tạo cơ hội cho các doanh nghiệp yếu kém làm ăn bất chính, lừa đảo ngân hàng, gây rủi ro cho ngân hàng. - Môi trường kinh tế Môi trường kinh tế được phản ánh qua chu kỳ kinh tế, các chính sách kinh tế vĩ mô từng thời kỳ và tác động của xu thế toàn cầu hóa. Sự biến động khó lường của nền kinh tế trong nước và thế giới ảnh hưởng lớn đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Nền kinh tế tăng trưởng, doanh nghiệp hoạt động hiệu quả, có nhiều khả năng trả nợ cho ngân hàng, RRTD giảm, và ngược lại.
Quá trình tự do hóa tài chính và hội nhập quốc tế có thể làm cho nợ xấu gia tăng khi tạo ra một môi trường cạnh tranh gay gắt, khiến các doanh nghiệp, khách hàng thường xuyên của ngân hàng đối mặt với nguy cơ thua lỗ.