Mở đầu bài nghiên cứu, nhằm giúp bạn đọc có một cái nhìn tổng quan về bài nghiên cứu, tác giả trình bày lý do tiêu nghiên cứu, mục tiêu, các câu hỏi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và ý nghĩa của đề tài. 123doc 4 Chương 2 - Khung lý thuyết và tổng quan các nghiên cứu trước đây: Chương này trình bày khung lý thuyết về mô hình định giá tài sản CAPM, tổng quan các nghiên cứu đây về mô hình CAPM và mối quan hệ giữa tính thanh khoản và tỷ suất sinh lợi cổ phiếu. Chương 3 - Phương pháp nghiên cứu: Trong chương này, tác giả giới thiệu dữ liệu, phương pháp nghiên cứu, xây dựng mô hình và các biến được sử dụng trong mô hình, đồng thời đưa ra các giả thuyết nghiên cứu. Chương 4 - Kết quả thực nghiệm ở Việt Nam: Chương này sẽ xem xét các kết quả của quá trình nghiên cứu: Bao gồm thống kê mô tả biến, phân tích các hệ số hồi quy thu được.
Chương 5 - Kết luận: Chương cuối cùng đưa ra kết luận của bài nghiên cứu. 123doc 5 CHƯƠNG 2. KHUNG LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 2. Mô hình định giá tài sản CAPM Với giả định mọi nhà đầu tư đều hành động một cách hợp lý dựa trên mong muốn tối đa hóa hữu dụng kỳ vọng hợp lý từ các thông tin kinh tế có sẵn, các nhà nghiên cứu William Sharpe (1964), Lintner (1965) và Black (1972) đã phát triển nên mô hình định giá tài sản CAPM trong thập niên 1960.
4 thập kỷ sau đó, mô hình CAPM vẫn được sử dụng rộng rãi trong các ứng dụng thực tế, như tính chi phí sử dụng vốn cho các công ty và ước tính thành quả của danh mục. Tính hấp dẫn của CAPM là mô hình cung cấp các dự đoán đơn giản, hợp lý và mang tính trực quan (intuitively pleasing) về cách thức đo lường rủi ro và còn về mối tương quan giữa tỷ suất sinh lợi và rủi ro. Mối quan hệ trên thực hiện hai chức năng quan trọng. Đầu tiên, mô hình cung cấp một tỷ suất sinh lợi chuẩn để đánh giá các khoản đầu tư tiềm năng.
Nhờ đó, các nhà phân tích chứng khoán biết được liệu tỷ suất sinh lợi dự báo của một cổ phiếu là cao hơn hay thấp hơn tỷ suất sinh lợi hợp lý ứng với một mức rủi ro cho trước. Thứ hai là mô hình giúp chúng ta đưa ra một dự đoán dựa trên lý thuyết về tỷ suất sinh lợi tài sản của các tài sản chưa được giao dịch trên thị trường. Chẳng hạn như để xác định mức giá IPO của một cổ phiếu hoặc là dự án đầu tư mới ảnh hưởng như thế nào đến tỷ suất sinh lợi đòi hỏi của nhà đầu tư. Không may thay, có lẽ cũng bởi tính đơn giản, các kết quả thực nghiệm của CAPM không có độ tin cậy cao, qua đó làm cho mô hình khó có thể sử dụng để áp dụng vào thực tế.
Các kết quả thực nghiệm của mô hình có thể phản ánh các khuyết điểm về CAPM vì xét cho cùng, đây cũng chỉ là một mô hình dựa trên các giả định phi thực tế. Những kiểm định sớm nhất về CAPM cho thấy rằng tỷ suất sinh lợi và rủi ro (được đo lường 123doc 6 bởi Beta) có mối tương quan với nhau. Tuy nhiên, mối quan hệ giữa tỷ suất sinh lời và Beta dường như thay đổi theo thời gian nghiên cứu. Trong một số giai đoạn, mối quan hệ rất mạnh, nhưng cũng có một số giai đoạn không mạnh.
Thậm chí, ở một số giai đoạn, mối quan hệ này còn không tồn tại. Tuy nhiên, chúng có thể cũng là vì những thiếu sót của các kiểm định thực nghiệm, đáng chú ý nhất là các yếu tố đại diện không tốt cho danh mục đầu tư thị trường – vốn đóng vai trò trung tâm trong các dự đoán của mô hình. Tuy nhiên, Fama và French (2003) cho rằng nếu vấn đề chọn danh mục đại diện cho danh mục thị trường bác bỏ đi các kiểm định của mô hình thì nó cũng bỏ qua hầu hết ứng dụng trong thực tế. Lý thuyết về CAPM Mô hình CAPM được xây dựng dựa trên lý thuyết lựa chọn danh mục đầu tư của Markowitz (1952).
Trong mô hình của Markowitz, một nhà đầu tư lựa chọn danh mục ở thời điểm t-1 và thu về tỷ suất sinh lợi ngẫu nhiên 𝑅𝑝𝑡 tại thời điểm t. Mô hình CAPM giả định rằng các nhà đầu tư là e ngại rủi ro, và khi lựa chọn trong số các danh mục, họ chỉ quan tâm về trung bình và phương sai của tỷ suất sinh lợi đầu tư trong 1 thời kỳ. Kết quả chính của mô hình được hình thành dựa trên các giả định trên. Cụ thể hơn, các danh mục phù hợp với sự lựa chọn của nhà đầu tư mang kết hợp tốt nhất về trung bình-phương sai.
Điều này có nghĩa là (i) họ tối thiểu hóa phương sai của tỷ suất sinh lợi danh mục 𝑠 2 (𝑅𝑝𝑡 ) với tỷ suất sinh lợi kỳ vọng cho trước là 𝐸(𝑅𝑝𝑡 ), và (ii) họ tối đa hóa tỷ suất sinh lợi kỳ vọng với mức phương sai cho trước. Cách thức kết hợp các tài sản để tạo ra một danh mục hiệu quả cung cấp một khuôn mẫu cho mối quan hệ giữa tỷ suất sinh lợi kỳ vọng và rủi ro trong mô hình CAPM. Giả sử có N tài sản rủi ro có sẵn cho nhà đầu tư, dễ để cho thấy rằng danh mục tối thiểu hóa phương sai của tỷ suất sinh lợi với mức tỷ suất sinh lợi kỳ vọng cho trước (𝐸(𝑅𝑝𝑡 ), phân bổ tỷ 123doc 7 trọng danh mục, 𝑥𝑖𝑒 (∑𝑁 𝑖=1 𝑥𝑖𝑒 = 1.0), cho các tài sản để đưa ra một mối quan hệ tuyến tính giữa tỷ suất sinh sinh lợi kỳ vọng của tài sản i và rủi ro Beta trong danh mục e.2), hãy nhớ đầu tiên là trong mô hình danh mục trên, tỷ suất sinh lợi kỳ vọng của các tài sản và hiệp phương sai giữa tỷ suất sinh lợi của các tài sản là các hệ số được cung ứng bởi các nhà đầu tư.2) nói rằng, với những yếu tố đầu vào trên, việc tìm ra danh mục tối thiểu hóa phương sai tỷ suất sinh lợi với tỷ suất sinh lợi kỳ vọng cho trước ngụ ý rằng sự chọn lựa tỷ trọng tài sản (𝑥𝑖𝑒 , 𝑖 = 1, … , 𝑁) với rủi ro Beta (𝛽𝑖𝑒 , 𝑖 = 1, … , 𝑁) phải thỏa mãn công thức (2.1) cho mỗi tài sản. Rủi ro Beta của tài sản i có diễn giải trực quan (intuitive interpretation).
Trong mô hình Markowitz, một rủi ro của danh mục được thể hiện dưới dạng phương sai của tỷ suất sinh lợi, vì thế rủi ro của danh mục e là 𝑠 2 (𝑅𝑝𝑡 ). Phương sai của tỷ suất sinh lợi danh mục là tổng của các hiệp phương sai có trọng số của tỷ suất sinh lợi mỗi tài sản với tỷ suất sinh lợi danh mục e. Cụ thể, như sau: (2.3) 𝜎 2 (𝑅𝑒 ) = ∑ 𝑥𝑖𝑒 𝐶𝑜𝑣( 𝑅𝑖 , 𝑅𝑒 ) Do đó, 𝛽𝑖𝑒 = 𝐶𝑜𝑣(𝑅𝑖 , 𝑅𝑒 )/𝑠 2 (𝑅𝑒 ) có thể hiểu như rủi ro hiệp phương sai của tài sản i trong danh mục e, được tính so với rủi ro của cả danh mục. Được biết, rủi ro của danh mục chỉ là trung bình của rủi ro hiệp phương sai của tất cả tài sản.
123doc 8 Công thức (2.1) là kết quả về mặt đại số, điều kiện về tỷ trọng tài sản để có thể cho ra danh mục có phương sai tỷ suất sinh lợi tối thiểu ứng với tỷ suất sinh lợi kỳ vọng là 𝐸 (𝑅𝑒 ). Mô hình CAPM chuyển biến điều kiện này thành một ràng buộc về giá cân bằng thị trường (Market Clearing prices) và tỷ suất sinh lợi kỳ vọng bằng cách xác định một danh mục – phải hiệu quả nếu giá tài sản ở mức cân bằng. Áp dụng vào một danh mục như thế, công thức (2.1) trở thành mối quan hệ giữa tỷ suất sinh lợi kỳ vọng và rủi ro ở tình trạng cân bằng thị trường. Sharpe và Lintner thêm vào 2 giả định đến mô hình Markowitz để xác định một danh mục hiệu quả nếu cung cầu trên thị trường cân bằng.
Giả định đầu tiên là với mức giá mà tại đó cung và cầu cân bằng ở thời điểm t-1, nhà đầu tư đồng ý về phân phối đồng nhất của tỷ suất sinh lợi của các tài sản trong giai đoạn t-1 đến t. Giả định thứ 2 là tất cả nhà đầu tư được vay và cho vay với lãi suất phi rủi ro 𝑅𝑓 – vốn không phụ thuộc lượng tiền cho vay và đi vay. Việc vay và cho vay với lãi suất phi rủi ro không giới hạn ngụ ý rằng một dạng mạnh của định lý tách biệt (separation theorem) của Tobin (1958). Biểu đồ 1 – mô tả các cơ hội về tỷ suất sinh lợi trung bình E(R) và độ lệch chuẩn s(R) sẽ thể hiện cho hoạt động trên.
Đường cong abc biểu thị các sự kết hợp giữa E(R) và s(R) của các danh mục tối thiểu hóa phương sai tỷ suất sinh lợi ở các mức tỷ suất sinh lợi kỳ vọng khác nhau, nhưng bỏ qua hoạt động cho vay và đi vay phi rủi ro. Trong tập hợp bị giới hạn, chỉ có các danh mục trên b cùng với abc là hiệu quả (chúng cũng tối đa hóa tỷ suất sinh lợi kỳ vọng với phương sai tỷ suất sinh lợi cho trước).1: Các cơ hội đầu tư Nguồn: Fama và French (2003) Thêm vào giả định đi vay và cho vay phi rủi ro sẽ làm đơn giản hóa bộ danh mục hiệu quả. Xem xét một danh mục đầu tư x% vốn danh mục vào chứng khoán phi rủi ro và 1- x% vào danh mục g.4) 𝑅𝑝 = 𝑥𝑅𝑓 + (1 − 𝑥)𝑅𝑔 Tỷ suất sinh lợi kỳ vọng và độ lệch chuẩn của tỷ suất sinh lợi của p: (2.6) 𝑠(𝑅𝑝 ) = |1 − 𝑥|𝑠(𝑅𝑔 ) Những công thức trên ngụ ý rằng các danh mục được rút ra từ việc thay đổi x trong công thức (2.4) được phác họa bằng 1 đường thẳng trong biểu đồ 1. Đường thẳng bắt đầu từ 𝑅𝑓 (x=1.0, tất cả nguồn vốn đều được đầu tư vào tài sản phi rủi ro), dịch chuyển qua điểm g (x=0.0 tất cả nguồn vốn được đầu tư vào danh mục g) và tiếp tục cho các danh mục bao gồm sự kết hợp đầu tư vào tài sản phi rủi ro và danh mục g (x<0.0, nhà đầu tư đi vay với lãi suất phi rủi ro và đầu tư vào danh mục g).
Với giả định về hoạt động đi 123doc 10 vay và cho vay với lãi suất phi rủi ro sẽ có được các danh mục hiệu quả nằm trên dường thẳng nối từ 𝑅𝑓 trong biểu đồ 1 và cho đến bên trái, cho đến danh mục tiếp tuyến T.