Chương 1: Giới thiệu đề tài. Chương 2: Tổng quan lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương 5: Kết luận. 123doc 7 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN CÁC BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM Về câu hỏi nghiên cứu mối quan hệ phòng ngừa hay trú ẩn giữa lợi nhuận vàng và chứng khoán, có không nhiều nghiên cứu trực tiếp về chủ đề này.
Với thực trạng đó nhằm đảm bảo mục tiêu hệ thống hóa các lý thuyết và bằng chứng thực nghiệm về mối quan hệ vàng và chứng khoán, tác giả tiến hành tổng hợp các nghiên cứu thảo luận về mối quan hệ giữa một yếu tố hàng hóa và một chỉ tiêu tài chính. Trong đó chủ yếu là các nghiên cứu về phòng ngừa và trú ẩn giữa vàng, chứng khoán, tỷ giá và lạm phát. Vàng đã được sử dụng như là một lưu trữ giá trị và một phương tiện trao đổi hàng thiên niên kỷ. Vào thế kỷ 17 William Petty của trường phái trọng thương đã mô tả vàng, bạc và đồ trang sức như sự giàu có '' mọi lúc và mọi nơi ".
Hình ảnh của vàng như là một cửa hàng bất biến của giá trị đã trở nên nhúng văn hóa, gia cố bởi các liên kết lịch sử của mình để kiếm tiền. Hệ thống tiêu chuẩn vàng liên quan đến kết nối các giá trị của chứng khoán trực tiếp với vàng. Ngân hàng trung ương trên thế giới tiếp tục giữ vàng là một trong những hình thức dự trữ được sử dụng để bảo vệ các giá trị của đồng tiền của họ. Tại Ấn Độ, nước tiêu thụ lớn nhất thế giới của vàng, kim loại quý nắm giữ một ý nghĩa văn hóa xã hội độc đáo như một biểu tượng của sự giàu có của gia đình và xã hội.
Các nghiên cứu thực nghiệm sớm nhất về đề tài này đã xuất hiện từ những năm 1990. Cho đến thời gian gần đây càng xuất hiện nhiều hơn và có những phương pháp mới hơn. Do độ bất ổn của thị trường chứng khoán và chứng khoán ngày càng tăng qua các cuộc khủng hoảng thị trường tài chính trong các thập kỷ vừa qua đã ngày càng thúc đẩy những nghiên cứu thực nghiệm nhằm hỗ trợ cho mong muốn của nhà đầu tư muốn tạo ra chiến lược đa dạng hóa và phòng ngừa khả thi làm giảm thiểu rủi ro trên thị trường chứng khoán, đặc biệt là thông qua phương án kết hợp các loại tài sản khác vào trong danh mục. Các nghiên cứu này xoay quanh 123doc 8 vai trò của vàng trong hệ thống tài chính bằng cách kiểm định mối tương quan của vàng và biến động tỷ suất sinh lợi của VN-index, đồng thời những nghiên cứu thực nghiệm này cũng cung cấp các chiến lược về phòng ngừa rủi ro bằng cách kết hợp vàng trong danh mục đầu tư.
Tổng quan các nghiên cứu về giá vàng chỉ ra sự đa dạng về các kết quả của nghiên cứu trước đây, có thể tóm tắt qua các điểm chính như sau: Thứ nhất, Sherman (1982, 1983), Ariovich (1983), Fortune (1987), Dooley, Isard và Taylor (1995), Sjaastad và Scacciallani (1996), Faff và Hillier (2004), Lucey, Tully và Poti (2006) , và Wang và Lee (2011) cung cấp các nghiên cứu liên quan đến tác động của các biến số kinh tế vĩ mô như sản lượng, tỷ giá hoặc lãi suất đối với giá vàng. Thứ hai, Koutsoyiannis (1983), Diba và Grossman (1984), Baker và van Tassel (1985), Pindyck (1993) và Aggarwal, Lucey và O'Connor (2014) tập trung nghiên cứu về vấn đề dự đoán giá vàng. Nhìn chung, các bằng chứng cho các mối quan hệ khác nhau và các tác động qua lại đã được nghiên cứu chứng minh và củng cố. Trong phạm vi đề tài này, tác giả cung cấp bằng chứng thực nghiệm tại thị trường Việt Nam.
Thứ ba, Tschoegl (1980), Solt và Swanson (1981), Ho (1985), Basu và Clouse (1993), và Smith (2002) đã thực hiện các phép kiểm định về giả thuyết hiệu quả thị trường cho thị trường vàng. Gần đây hơn, những năm 2012 do xu hướng tăng giá của giá vàng, các tác giả Bialkowski, Bohl, Stephan và Wisniewski (2012) đã kiểm tra liệu giá vàng có phải là bong bóng đầu cơ bằng cách sử dụng các kiểm định tính dừng Dickey-Fuller với hiệu chỉnh tăng cường Markov (regime-switching augmented Dickey-Fuller) và đưa đến kết luận rằng giá trị giá vàng là yếu tố nền tảng. Ngược lại, Baur và Glover (2012) xác định rằng giá vàng đã bùng nổ trong giai đoạn năm 2002 và 2012 bằng cách sử dụng kiểm định phát triển bởi Phillips, Wu và Yu (2011). Lucey và O'Connor (2013) và Baur and Glover (2014) cũng cho kết quả tương tự.
123doc 9 Thứ tư, nghiên cứu kiểm tra sự hiệu quả phòng ngừa lạm phát của vàng đã được thực hiện bởi Kolluri (1981), Moore (1990), Laurent (1994), Chappell và Dowd (1997), Mahdavi và Zhou (1997), Harmston (1998) Ghosh, Levin, Macmillan và Wrigh (2004), Levin và Wright (2006), Worthington và Pahlavani (2007), và Beckmann và Czudaj (2013). Các cuộc điều tra này thường dựa trên phân tích mối quan hệ dài hạn giữa giá vàng và mức giá trung bình thông qua các kiểm định đồng liên kết. Kết quả không rõ ràng và khác nhau tùy thuộc vào giai đoạn lấy mẫu và quốc gia đang được điều tra. Các nghiên cứu ban đầu dựa trên ước lượng một mô hình hiệu chỉnh vector tự hồi quy (VECM).
Tuy nhiên, Beckmann và Czudaj (2013) gần đây chứng minh rằng việc thực hiện một VECM dựa trên phơng pháp Markov- switching là phù hợp hơn trong câu hỏi nghiên cứu này. Họ chỉ ra rằng vàng có thể phần nào sử dụng để phòng ngừa lạm phát trong tương lai về dài hạn và khả năng này có xu hướng mạnh mẽ hơn đối với Mỹ và Anh so với Nhật Bản và Khu vực Châu Âu. Cuối cùng, trở lại các nghiên cứu trước đây về câu hỏi nghiên cứu của đề tài: Vàng hoạt động như kênh phòng ngừa hay trú ẩn đối với các tài sản tài chính là cổ phiếu? Vấn đề tương quan giữa vàng và các tài sản chủ yếu khác trước đây đã được giải quyết trong các nghiên cứu trước đây của Sherman (1986), Jaffe (1989), Chua, Stick và Woodward (1990), Upper (2000), Ciner (2001) Michaud, Michaud và Pulvermacher (2006), Hillier, Draper và Faff (2006), McCown và Zimmerman (2006), và Kaul và Sapp (2006) và kết quả tổng thể cho thấy tương quan thấp hoặc thậm chí tiêu cực. Tuy nhiên gần đây, Baur và Lucey (2010) đưa ra các định nghĩa về công cụ phòng ngừa, kênh trú ẩn an toàn như sau: một tài sản như một công cụ phòng ngừa nếu không tương quan hoặc tương quan với một tài sản hoặc danh mục khác xét về trung bình.
Sau đó Anna Creti và cộng sự (2013) tìm thấy kết luận về sự liên hệ giữa thị trường tài chính (biểu thị qua dữ liệu lợi nhuận thị trường chứng khoán) với thị trường hàng hóa. Tác giả nghiên cứu mối liên hệ giữa giá cả lợi nhuận cho 25 mặt hàng và chứng khoán dựa vào phương pháp DCC-GARCH cho 123doc 10 thấy mối liên kết giữa thị trường hàng hóa và chứng khoán, trong các kết luận về quan hệ giữa vàng và chứng khoán được chứng minh. Một tài sản được coi là công cụ đa dạng hóa danh mục nếu có quan hệ là tích cực (nhưng không phải tương quan hoàn toàn) với các tài sản khác hoặc danh mục đầu tư trung bình. Một công cụ phòng ngừa và một tài sản là công cụ đa dạng hóa danh mục không thể bảo đảm được một danh mục đầu tư bị thua lỗ trong điều kiện thị trường khắc nghiệt, vì cả hai tài sản chỉ hoạt động ở mức trung bình.
Cuối cùng, một tài sản được xem là kênh trú ẩn an toàn nếu tài sản đó không tương quan hoặc tương quan tiêu cực với tài sản hoặc danh mục khác trong thời gian thị trường biến động hay bất ổn. Baur và McDermott (2010) đã chỉ ra rằng một công cụ phòng ngừa mạnh (yếu) và kênh trú ẩn an toàn là khi tài sản có tương quan ngược chiều (không tương quan) với các tài sản hoặc danh mục đầu tư khác tính theo thị trường trung bình và chỉ trong thời gian thị trường biến động hoặc bất ổn. Phần tiếp theo tác giả trình bày các quan điểm về vai trò của vàng trong đầu tư, đặc biệt là tương quan với thị trường chứng khoán.1 Vàng là công cụ phòng ngừa rủi ro đối với các chỉ tiêu tài chính Tại thời điểm thực hiện nghiên cứu, có không nhiều các nghiên cứu cụ thể trực tiếp về quan hệ phòng ngừa và trú ẩn giữa vàng và chứng khoán. Trong nội dung tổng hợp lý thuyết về vàng là cộng cụ phòng ngừa rủi ro, tác giả tổng hợp các quan hệ phòng ngừa rủi ro giữa hàng hóa đặc biệt vàng và các yếu tố tài chính, gồm lạm phát, tỷ giá, chứng khoán.1 Phòng ngừa lạm phát Một tài sản đóng vai trò là kênh phòng ngừa rủi ro chống lại tài sản khác, khi tài sản đó cung cấp sự bảo vệ chống lại sự di chuyển trong giá của hàng hóa hay tài sản khác do biến động giá tương ứng của nó chắc chắn bù trừ cho nhau tính trên trung bình.
Theo lý thuyết, giá trị tài sản thì bền vững bởi vì trong một thị trường 123doc 11 cạnh trạnh không hoàn hảo sẽ tạo ra sự phân biệt giá và một hiệu ứng truyền dẫn chi phí đến người tiêu dùng cũng không hoàn hảo, điều này sẽ dẫn đến việc giá tài sản không thể phản ứng trước sự thay đổi của CPI và dẫn đến sự mất thăng bằng thị trường. Vàng cũng không là ngoại lệ. Nằm trong mạch ý tưởng đó, vàng cũng được cân nhắc là có chức năng phòng ngừa lạm phát. Đặc biệt, sau sự sụp đổ của bản vị vàng và hệ thống Bretton Woods 1971 và trong giai đoạn hiện nay, vàng còn được xem là một kênh đầu tư hấp dẫn.
Sự phát triển của thị trường vàng đã thôi thúc các nhà phân tích tài chính và quản lý chính sách chứng khoán xem xét vàng như một chỉ tiêu quan trọng trong việc đánh giá xu hướng lạm phát bên cạnh những chỉ tiêu cơ bản khác. Phần lớn, các nghiên cứu đã tập trung vào vai trò phòng ngừa rủi ro của vàng đối với lạm phát như nghiên cứu của Chappell, Dowd (1997), Kolluri (1981), Laurent (1994), Moore (1990). Các nghiên cứu này xem xét mối quan hệ trong ngắn hạn và dài hạn giữa vàng và chỉ số giá, qua đó cho thấy vàng đóng vai trò là công cụ phòng ngừa rủi ro hiệu quả đối với lạm phát. Mahdavi, Zhou (1997) đã kiểm tra mối quan hệ giữa vàng và giá cả hàng hóa bằng mô hình VECM.
Kết quả nghiên cứu của họ cho thấy rằng tính ổn định của giá vàng báo hiệu lạm phát sẽ tùy thuộc vào khung thời gian nghiên cứu.