MỞ ĐẦU 1-Lý do chọn đề tài Quá trình đổi mới đất nước đã và đang mang lại kết quả rõ rệt. Đời sống vật chất và tinh thần của trẻ em từng bước được nâng cao, công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em có nhiều chuyển biến tích cực từ nhận thức đến chính sách và phương pháp tổ chức thực hiện. Thông qua các phương tiện thông tin đại chúng người dân đã nhận thức rõ các quyền lợi và bổn phận của trẻ em được ghi trong Công ước LHQ về quyền trẻ em và Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em. Đời sống vật chất, văn hóa tinh thần cho trẻ em đang dần được chăm lo tốt hơn, số lượng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt được chăm sóc ngày càng tăng lên.
Tuy nhiên, một mặt quá trình phát triển, hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực mang lại nhiều cơ hội, đưa đất nước theo kịp với khu vực và thế giới, mặt khác cũng tạo ra nhiều thách thức mới đối với công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em. Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt theo quy định của Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 (Luật BVCSTE 2004) và một số nhóm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khác chưa được đưa vào trong Luật đang có xu hướng gia tăng. Theo báo cáo của các địa phương đến cuối năm 2008, cả nước có khoảng 1,56 triệu trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt theo quy định của Luật BVCSTE 2004, nếu tính cả 4 nhóm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt chưa được đưa vào Luật (trẻ em bị ngược đãi, bạo lực, buôn bán, trẻ em tai nạn thương tích; trẻ em nghèo) thì cả nước có khoảng trên 4,6 triệu em (Nguồn: Báo cáo Cục BVCSTE 2008). Lao động trẻ em là một hiện tượng tồn tại từ lâu ở tất cả các xã hội, ảnh hưởng mạnh mẽ đến cuộc sống và sự phát triển của trẻ em.
Nhưng phải đến đầu những năm 80 của thế k thứ XX vấn đề lao động trẻ em mới được coi là vấn đề bức xúc mang tính toàn cầu và thu hút được sự quan tâm của cộng đồng quốc tế. Ở nước ta, vấn đề tự do hoá thị trường, sức lao động gồm cả lao động trí óc và lao động chân tay, nhiều trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt đã bỏ nhà đi lang thang, tự lao động kiếm sống, làm những công việc không phù hợp với sức khoẻ và tâm sinh lý của mình. Đáng chú ý nhất là số trẻ em phải lao động trong điều kiện nặng nhọc, độc 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hại, nguy hiểm. Đa phần những trẻ em này thường có những hoàn cảnh gia đình hết sức khó khăn hoặc đời sống gia đình có nhiều diễn biến phức tạp.
Bản thân các em thiếu thốn cả về vật chất lẫn tinh thần, hầu hết các em không ch tự nuôi sống bản thân mà còn phải gửi tiền nuôi gia đình, gặp nhiều rủi ro trong cuộc sống mưu sinh, khi mắc bệnh hoặc gặp tai nạn không được chăm sóc chu đáo. Thực trạng lao động trẻ em ở nước ta đã và đang gây ra nhiều bức xúc. Đây cũng là một trong những vấn đề được Chính phủ quan tâm đặc biệt và đưa ra những giải pháp thiết thực nhằm can thiệp và hỗ trợ có hiệu quả đối với nhóm trẻ em thiệt thòi này. Sự quan tâm được thể hiện: Ngày 17/11/2000, Việt Nam đã phê chuẩn tham gia Công ước 182 về “Cấm và hành động ngay lập tức loại bỏ các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất”.
Ngày 9/6/2003, Việt Nam cũng đã chính thức phê chuẩn tham gia Công ước 138 về Quy định tuổi tối thiểu được đi làm việc. Thủ tướng Chính Phủ đã phê duyệt Chương trình Ngăn ngừa và giải quyết tình trạng trẻ em lang thang, trẻ em bị xâm phạm tình dục và trẻ em phải lao động nặng nhọc, trong điều kiện độc hại, nguy hiểm giai đoạn 2004-2010 (Quyết định số 19/2004/QĐ-TTg ngày 12 tháng 2 năm 2004) Điều đó thể hiện sự cam kết mạnh mẽ của Chính phủ trong việc đảm bảo công bằng xã hội và bảo vệ các quyền trẻ em và quyền con người. Nhưng đến năm 2008, do kinh tế suy thoái, lạm phát tăng cao, đời sống một bộ phận người dân gặp khó khăn và tình hình trẻ em lang thang, lao động lại có xu hướng gia tăng và diễn biến phức tạp. Hà Đông trước kia là thành phố trực thuộc t nh Hà Tây cũ, từ ngày 1/8/2008, cùng với toàn bộ t nh Hà Tây, thành phố Hà Đông được nhập về thủ đô Hà Nội.
Ngày 8/5/2009, Hà Đông trở thành một quận thuộc thành phố Hà Nội. Chính từ sự thay đổi đó đã tác động đến quá trình đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ trong thời gian qua. Sự thay đổi về cơ cấu kinh tế, cơ cấu nghành nghề, công nghiệp hóa đã kéo theo làn sóng dân cư từ các t nh đổ về, kéo theo tình trạng trẻ em lao động và những hậu quả đi cùng là vấn đề cần được quan tâm giải quyết. Vì vậy, nghiên cứu và phân tích đề tài “Một số giải pháp phòng ngừa và giải quyết tình trạng lao động trẻ 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com em (nghiên cứu trường hợp tại địa bàn quận Hà Đông – Tp Hà Nội)” nhằm mục đích sẽ đóng góp một phần vào việc nghiên cứu tìm ra giải pháp chính sách cho sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc trẻ em ở Quận Hà Đông nói riêng và ở nước ta nói chung.
2- Tổng qu n nghiên cứu về l o động trẻ em Để có thể có những nhìn nhận ban đầu về thực trạng lao động trẻ em, xu hướng về quy mô lao động trẻ em trong thời gian trước, tìm hiểu các nguyên nhân dẫn đến sự tồn tại lao động trẻ em, những hệ luỵ của lao động đến sự phát triển của trẻ em, nhóm nghiên cứu tiến hành thu thập, rà soát phân tích, đánh giá các công trình nghiên cứu trong quá khứ về các vấn đề trẻ em nói chung và lao động trẻ em nói riêng. Thứ nhất, c ng trình nghiên cứu, bài viết iên quan đến trẻ em nói chung “Báo cáo Phân tích tình hình trẻ em ở Việt Nam” do UNICEF thực hiện năm 2010. Báo cáo lấy cách tiếp cận dựa trên quyền con người, xem xét tình hình trẻ em dựa trên quan điểm các nguyên tắc chính về quyền con người như bình đẳng, không phân biệt đối xử và trách nhiệm giải trình. Kết quả nghiên cứu đã làm rõ tình hình trẻ em nam và nữ, nông thôn và thành thị, dân tộc Kinh và dân tộc thiểu số, trẻ em giàu và trẻ em nghèo hiện nay ở Việt Nam.
Trong đó, nhóm trẻ em thiếu sự chăm sóc của bố mẹ ở Việt Nam có diễn biến phức tạp. Các cơ sở chăm sóc cả công lập và dân lập có ở hầu hết các t nh thành trong cả nước dưới nhiều hình thức như chăm sóc tại nhà, chăm sóc tập trung và các hình thức chăm sóc hỗ trợ không chính thức khác. Tình trạng số lượng cho con nuôi ra nước ngoài cao trong khi đây được quy định là biện pháp cuối cùng ch sử dụng khi không còn cách nào khác. Ngoài ra, báo cáo cũng ch ra rằng Việt Nam còn thiếu các quy định cụ thể cho việc truy tố những đối tượng hoạt động môi giới cho nhận con nuôi trái pháp luật.
Đặng Bích Thủy (2009-2010), Một số vấn đề cơ bản về trẻ em Việt Nam, Đề tài khoa học cấp bộ, Viện Khoa học xã hội Việt Nam đã ch ra những vấn đề xã hội mang tính gay gắt mà trẻ em đang phải đối mặt như bất bình đẳng, trẻ lao động sớm, bị xâm hại, bị bỏ rơi…Tác giả lý giải, phân tích bối cảnh, nguyên nhân của các vấn đề trẻ phải đối mặt từ góc độ chính sách, nhận thức, hành vi, hành động xã hội 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đồng thời dự báo xu hướng, đề xuất giải pháp cho giai đoạn 2010-2020 nhằm góp phần hạn chế và giải quyết các vấn đề của trẻ em. Tuy nhiên nghiên cứu này lại chưa tập trung vào được một đối tượng trẻ em cụ thể với một vấn đề cụ thể, nên các giải pháp được đưa ra ở mức độ để đảm bảo quyền và lợi ích của em nói chung. Bài viết chuyên đề “Kinh nghiệm của một số nước về hệ thống bảo vệ trẻ em” của tác giả Nguyễn Hải Hữu đăng trên website:treem.vn cho thấy thực tế ở Australia, Thuỵ Điển, Hồng Kông, việc hình thành hệ thống bảo vệ trẻ em liên quan rất nhiều đến các quy định của pháp luật và chính sách hiện hành. Một trong những điểm mới trong bài viết là khái niệm “tư pháp thân thiện với trẻ em”.
Khi trẻ em vi phạm pháp luật thì áp dụng các hình thức điều tra, xét hỏi, xử lí tại toà án như thế nào để không gây tổn hại cho trẻ em đặc biệt là trong trường hợp trẻ em là nạn nhân của các hành vi bạo lực, xâm hại. Bài viết giúp chúng ta có thể tìm hiểu và áp dụng những ưu điểm, thành tựu thực tế của các nước để xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, chính sách bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em ở nước ta phù hợp và hiệu quả. “Một số kinh nghiệm quốc tế và những vấn đề đặt ra đối với việc phát triển các dịch vụ công tác xã hội trong công tác bảo vệ trẻ em” của tác giả Đỗ Thị Ngọc Phương đăng trên Website:http://www.vn, nhận định tại Anh, Mĩ, c, Philippines, Thái Lan, Singapore, Nhật Bản, Trung Quốc, việc cung cấp dịch vụ xã hội chủ yếu là trách nhiệm của các bộ và cơ quan nhà nước. Tại các quốc gia này, cán bộ xã hội vẫn thực hiện chức năng tham vấn tâm lý xã hội, nhưng lồng ghép với đánh giá các nhu cầu phúc lợi xã hội và quản lý việc tiếp cận với các dịch vụ xã hội đa dạng khác nhau.
Dịch vụ xã hội cũng có thể bao gồm việc xem xét các nhu cầu phát triển của trẻ em, gia đình, cộng đồng và lồng ghép với sự tham gia của cộng đồng. “Những điểm mở và thách thức cơ bản với phương thức làm chương trình dựa trên cơ sở quyền con người cho phụ nữ và trẻ em ở Việt Nam” của Christian Salazar Volkmann năm (2004), NXB chính trị quốc gia đã đề cập đến vấn đề quyền của phụ nữ và trẻ em. Tác giả đã làm rõ những yếu tố cơ hội và thách thức cơ bản nhất liên 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com quan đến chương trình đảm bảo quyền và sự tham gia của phụ nữ và trẻ em Việt Nam trên cơ sở tiếp cận từ quyền con người.