CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÍN DỤNG XUẤT KHẨU CỦA NHÀ NƯỚC 1.1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ TÍN DỤNG XUẤT KHẨU CỦA NHÀ NƯỚC 1.1 Định nghĩa Trên thế giới, thuật ngữ tín dụng xuất khẩu của nhà nước được dùng chỉ một loạt các phương tiện hỗ trợ khác nhau và có thể hiểu theo nghĩa khác nhau trong các ngữ cảnh khác nhau. Đây là một hình thức hỗ trợ chính thức do chính phủ thực hiện hoặc thực hiện theo ủy quyền của chính phủ đối với xuất khẩu hàng hóa và/hoặc dịch vụ, bao gồm cả cho thuê tài chính. Tín dụng xuất khẩu của nhà nước bao gồm - Bảo lãnh tín dụng xuất khẩu - Bảo hiểm tín dụng xuất khẩu - Hỗ trợ tài chính chính chính thức: tín dụng trực tiếp/ tài trợ và tái tài trợ và hỗ trợ lãi suất - Bất kỳ sự kết hợp các hình thức nêu trên Tại Việt Nam, theo Quyết định số 133/2001/QĐ-TTg ngày 10/9/2001 “Tín dụng xuất khẩu là ưu đãi của nhà nước nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế và các cá nhân phát triển sản xuất – kinh doanh hàn xuất khẩu theo chính sách khuyến khích xuất khẩu của Nhà nước“. Các hình thức tín dụng xuất khẩu của nhà nước theo quy định của Quyết định này bao gồm: - Tín dụng xuất khẩu trung và dài hạn, bao gồm: + Cho vay đầu tư trung và dài hạn + Hỗ trợ lãi suất sau đầu tư + Bảo lãnh tín dụng đầu tư - Tín dụng hỗ trợ xuất khẩu ngắn hạn + Cho vay ngắn hạn (kể cả cho vay đối với các hợp đồng có điều khoản trả chậm đến 720 ngày) + Bảo lãnh dự thầu, bảo lãnh thực hiện hợp đồng.
Tuy nhiên, căn cứ theo quy định tại Nghị định 151/2006/NĐ-CP ngày 20/12/2006 (thay thế Quyết định 133/2001/QĐ-TTg ngày 10/9/2001), tín dụng xuất khẩu của nhà nước bao gồm: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 - Cho vay xuất khẩu: gồm cho vay người xuất khẩu, cho vay người nhập khẩu - Bảo lãnh tín dụng xuất khẩu - Bảo lãnh dự thầu và bảo lãnh thực hiện hợp đồng xuất khẩu.2 Vai trò của tín dụng xuất khẩu của nhà nước Tín dụng xuất khẩu của nhà nước đóng một vai trò quan trọng trong trao đổi thương mại quốc tế, là một công cụ cơ bản của chính sách thương mại quốc gia, nhưng nếu được cấp phát một cách thiếu điều tiết, thiếu hài hoà thì sẽ tạo ra những tác động làm sai lệch cạnh tranh trên thị trường.1 Đáp ứng nhu cầu vốn ngày càng gia tăng cho hoạt động xuất khẩu - Nhu cầu vốn cho đầu tư do thay đổi cơ cấu hàng xuất khẩu: Cơ cấu xuất khẩu của các nước thường thay đổi ở các giai đoạn khác nhau. Sự thay đổi này bao giờ cũng theo hướng gia tăng tỷ trọng hàng chế biến có hàm lượng công nghệ cao, giảm tỷ trọng hàng thô và bán thành phẩm. Hơn nữa đối với hầu hết các nước đang phát triển, việc tăng xuất khẩu những mặt hàng mới và công nghệ cao là cách tốt nhất để tăng tổng kim ngạch xuất khẩu và được coi là một nhân tố cơ bản trong chiến lược phát triển của các nước này. Để có thể mở rộng xuất khẩu những mặt hàng này, các nước cần có một lượng vốn lớn để đáp ứng nhu cầu tài trợ.
- Nhu cầu vốn để đáp ứng nhu cầu trong các công đoạn của quá trình sản xuất, kinh doanh hàng xuất khẩu: Với mục tiêu đạt được kim ngạch xuất khẩu cao, chính sách hỗ trợ xuất khẩu cần phải đảm bảo rằng một khối lượng lớn các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh hàng xuất khẩu tiếp cận tín dụng một cách dễ dàng và giá trị của khoản tín dụng ở mức lớn, thời gian phù hợp với chu kỳ kinh doanh.2 Hỗ trợ các doanh nghiệp đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ tham gia các hoạt động thương mại quốc tế. Hoạt động thương mại quốc tế là hoạt động kinh doanh tất yếu phát sinh dựa trên cơ sở lợi thế quốc gia. Khi tham gia vào hoạt động thương mại quốc tế các doanh nghiệp phải đối mặt với thách thức như sự cạnh tranh không chỉ với các doanh nghiệp ở nước nhập khẩu mà cả những doanh nghiệp xuất khẩu của các quốc gia khác, pháp luật thương mại quốc tế, tập quán thương mại phức tạp của các nước và các khu vực lãnh thổ vì vậy rủi ro thất bại trong kinh doanh trên thị trường thương mại quốc tế của các doanh nghiệp xuất khẩu là rất cao nên rất cần sự hỗ trợ vững chắc từ phía Chính LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Mặt khác, thị trường thế giới là thị trường rất rộng lớn vì vậy trong chiến lược phát triển kinh tế, Chính phủ các nước rất chú trọng đến việc hỗ trợ xuất khẩu.
Còn đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ, Một đặc điểm chung của loại hình doanh nghiệp này là khả năng tự nâng cao hiệu quả kinh tế, tăng tỷ suất lợi nhuận theo cả chiều sâu và chiều rộng của doanh nghiệp là rất nhỏ xuất phát từ hạn chế về vốn, về quy mô sản xuất. Nguồn vốn hạn hẹp làm cho các doanh nghiệp thường gặp khó khăn trong việc mua sắm mới và nâng cấp trang thiết bị, đổi mới hiện đại hoá công nghệ, cải tạo môi trường, đào tạo nâng cao trình độ đội ngũ lao động, mua nguyên vật liệu đầu vào cho sản xuất, khó khăn trong việc đưa sản phẩm đã sản xuất ra thị trường quốc tế nhất là khi nước đó đang trong giai đoạn đang phát triển. Hơn nữa, với quy mô nhỏ như trên, các doanh nghiệp này cũng khó có thể tiếp cận được những khoản tín dụng của ngân hàng và các tổ chức tín dụng theo nhu cầu thực tế của họ để phát triển sản xuất đáp ứng nhu cầu khách hàng mỗi khi họ có đơn hàng xuất khẩu, đặc biệt là nguyên nhân không đủ các điều kiện vay vốn về tài sản thế chấp. Với một cơ quan tài trợ xuất khẩu của Chính phủ cấp tín dụng xuất khẩu, các doanh nghiệp này có thể dễ tiếp cận nguồn vốn hơn để mở rộng sản xuất và kinh doanh hàng xuất khẩu, đặc biệt trong giai đoạn đầu mới thành lập.3 Chia sẻ và giảm thiểu rủi ro trong hoạt động thương mại quốc tế - Trong bối cảnh toàn cầu hoá và tự do hoá thương mại quốc tế, tính chất phức tạp và tính bất ổn trong thương mại quốc tế đã trở thành vấn đề mà các nhà xuất khẩu đặc biệt quan tâm.
Trong thương mại quốc tế, các nhà xuất khẩu thường gặp nhiều rủi ro và các rủi ro nếu có cũng nghiêm trọng hơn trong kinh doanh nội địa. Các rủi ro có thể phát sinh ở bất kỳ giai đoạn nào của quá trình xuất khẩu do các nguyên nhân rất khác nhau, chẳng hạn như các rủi ro về chính trị, sự mâu thuẫn của các hệ thống pháp luật, những khác biệt trong tập quán thương mại, những quy định về quản lý ngoại hối…Nói chung là bất kỳ một rủi ro nào xảy ra cũng sẽ gây thiệt hại về tài chính cho nhà xuất khẩu. Với việc thiết lập và phát triển hệ thống tài trợ xuất khẩu, các nhà xuất khẩu cũng như các ngân hàng cấp tín dụng cho nhà xuất khẩu chuyển giao một phần rủi ro hoặc giảm thiểu rủi ro thông qua việc mua bảo hiểm tín dụng xuất khẩu, bảo lãnh tín dụng xuất khẩu từ một cơ quan của Chính phủ. Các loại rủi ro được bảo lãnh - Rủi ro chính trị (rủi ro quốc gia): là rủi ro không thanh toán cho một hợp đồng xuất khẩu hoặc một dự án do các hành động của nước nhập khẩu đối với nhà nhập khẩu hoặc của chính phủ nước nhập khẩu.
Các hành động này bao gồm các quyết LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 định, lệnh cấm chuyển tiền thanh toán, hủy bỏ giấy phép, chiến tranh hoặc nội chiến. Trong các thập kỷ gần đây, phần lớn các rủi ro chính trị thường liên quan đến việc không thể đổi ngoại tệ chuyển tiền ra nước ngoài. - Rủi ro thương mại: là rủi ro không thanh toán của nhà nhập khẩu tư nhân, hoặc của ngân hàng thương mại hoặc nhà nhập khẩu thuộc chính phủ do vỡ nợ, không có khả năng thanh toán hoặc phá sản, hoặc không nhận được hàng hoặc không muốn nhận hàng (từ chối nhận hàng). Trường thì các rủi ro do có tranh chấp giữa nhà nhập khẩu và xuất khẩu liên quan đến chất lượng hàng hóa, thời hạn giao hàng, thực hiện hợp đồng và các nội dung tương tự sẽ không được tính là rủi ro thương mại.
Các đòi hỏi bồi thường đối với các trường hợp này thường được xem xét cho tới khi các tranh chấp giữa các bên được giải quyết. Sự cần thiết phát triển tín dụng xuất khẩu của nhà nước hiện nay đối với nền kinh tế Việt Nam Mục tiêu của hoạt động xuất khẩu của Việt Nam hiện nay là phát triển xuất khẩu với tốc độ tăng trưởng cao và bền vững, làm động lực thúc đẩy tăng trưởng GDP, giải quyết việc làm và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động. Đẩy mạnh sản xuất và xuất khẩu các mặt hàng có lợi thế cạnh tranh, tích cực phát triển các mặt hàng khác có tiềm năng thành những mặt hàng xuất khẩu chủ lực mới, theo hướng nâng cao hiệu quả xuất khẩu. Chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu theo hướng đẩy mạnh xuất khẩu những mặt hàng có giá trị gia tăng cao; tăng sản phẩm chế biến, chế tạo, sản phẩm có hàm lượng công nghệ và chất xám cao, giảm dần tỷ trọng hàng xuất khẩu thô.
Xuất khẩu năm 2008 tuy đã đạt được kết quả tích cực nhưng đã xuất hiện nhiều yếu tố không thuận lợi. Xuất khẩu những tháng cuối năm 2008 đã có sự sụt giảm do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế thế giới. Hiện nay xuất khẩu Việt Nam đang đối mặt với những khó khăn sau: - Tình hình kinh tế thế giới tiếp tục diễn biễn phức tạp, khó lường. Do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính, tăng trưởng kinh tế toàn cầu sẽ suy giảm mạnh trong năm tới, nhiều nền kinh tế lớn trên thế giới đã rơi vào suy thoái hoặc tiến gần đến suy thoái, tăng trưởng của các nền kinh tế đang nổi lên cũng chững lại.
Theo IMF, tốc độ phát triển kinh tế toàn cầu trong năm 2009 sẽ là 2,2% thấp hơn so với dự đoán trước đó, 3%. - Việc thắt chặt tín dụng của ngân hàng các nước đã khiến cho các nhà nhập khẩu không có tiền trả cho doanh nghiệp ngay khi nhận hàng như trước đây, khách LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.