Chương 1 và chương 2. Phần vấn đề giải quyết chính liên quan tới thực trạng và giải pháp phát triển thương mại sản phẩm Máy công trình của Công ty Cổ phần Thiết bị và Xây lắp Công nghiệp được đề cập trong 2 chương cuối chương 3 và chương 4. Đặng Thị Thanh Loan Lớp: K42F6 19 Luan van Trường Đại học Thương mại Luận văn tốt nghiệp CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ CÁC KẾT QUẢ PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI MÁY CÔNG TRÌNH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN THIẾT BỊ VÀ XÂY LẮP CÔNG NGHIỆP 3. Phương pháp nghiên cứu.
Phương pháp thu thập số liệu. Phương pháp quan sát: là phương pháp nhìn nhận trực tiếp sự vật, hiện tượng bằng mắt thường để đưa ra những kết luận sơ bộ ban đầu. Sử dụng phương pháp quan sát để quan sát trực tiếp cơ cấu phòng ban, bộ phận tổ chức của Công ty. Quan sát để có cái nhìn tổng quan về quá trình làm việc, dòng vận động hàng hóa, tình hình cung cầu, luồng quay của tiền tệ, và quá trình thực hiện hoạt động PTTM của Công ty như thế nào? Phương pháp này giúp thu thập được những thông tin phục vụ cho quá trình tìm hiểu về Công ty, công tác tổ chức hoạt động trong Công ty và được sử dụng trong những thông tin mang tính khái quát chung.
Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp: là phương pháp sử dụng những kĩ năng cơ bản như các các mẫu phiếu điều tra, phỏng vấn để tiếp cận thông tin thông qua ý kiến của đối tượng được trực tiếp điều tra. Bằng 15 mẫu phiếu điều tra, phỏng vấn được thiết kế từ đó phát trực tiếp cho cán bộ, công nhân viên trong Công ty và một số đối tượng khác như: Công ty Cổ phần Than Núi Béo. Công ty Cổ phần Than Cọc Sáu. Công ty Cổ phần Máy công trình.
Những công ty trên là những đối tượng có liên quan trực tiếp tới hoạt động PTTM của công ty Cổ phần Thiết bị và Xây lắp Công nghiệp. Trong đó có những công ty là những khách hàng chính và cũng có công ty là đối thủ cạnh tranh trong ngành của công ty. Qua đó các phiếu điều tra, phỏng vấn đó tác giả thu thập được những đánh giá và giải pháp PTTM sản phẩm Máy công trình của Công ty trong giai đoạn hiện nay một cách khách quan nhất. Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp: là phương pháp thu thập số liệu từ nhiều nguồn khác nhau như báo cáo kết quả sản xuất, kinh doanh của Công ty, các bài báo, tạp chí, các phương tiện truyền thông, Internet…để có được những con số chính xác nhất về tình hình hoạt động kinh doanh của Công ty, thực trạng PTTM của Công ty trong giai đoạn vừa qua.
Đây là phương pháp thu thập đem lại những Đặng Thị Thanh Loan Lớp: K42F6 20 Luan van Trường Đại học Thương mại Luận văn tốt nghiệp thông tin tương đối chính xác, quyết định tới quá trình phân tích tình hình hoạt động kinh doanh của Công ty. Phương pháp phân tích số liệu. Đây là phương pháp quan trọng nhất và không thể thiếu được. Phương pháp này được sử dụng trong toàn bộ chương 3 của bài viết.
Bao gồm: Phương pháp so sánh: là phương pháp đối chiếu số liệu qua mỗi năm, mỗi kỳ kinh doanh, hay giữa các thị trường khác nhau…Sử dụng phương pháp để so sánh tình hình hoạt động kinh doanh nói chung và PTTM nói riêng của Công ty trong 5 năm 2005-2010. So sánh quy mô tiêu thụ, sản lượng trên mỗi thị trường để có đánh giá chính xác nhất. Phương pháp thống kê, phân tích: Những con số sẽ trở nên rời rạc nếu không có sự thống kê, sắp xếp hợp lý, và cũng là những con số chết nếu không có sự phân tích. Thống kê để tác giả tập hợp số liệu thu thập được từ Công ty một cách logic, khoa học.
Phân tích số liệu để thấy được hoạt động PTTM của Công ty được phản ánh qua các con số ra sao. Tác giả đặt các chỉ tiêu trong mối quan hệ gắn bó với nhau để có kết quả phân tích đúng đắn, từ đó mới đánh giá được tình hình hoạt động của Công ty và có những giải pháp thiết thực nhất. Phương pháp khác như: phương pháp chỉ số, đồ thị, mô hình hóa. Đây là những phương pháp nhằm giúp cho quá trình phân tích thực trạng PTTM sản phẩm của Công ty một cách cụ thể hơn, hệ thống số liệu được phản ánh trên các đồ thị, trên các mô hình hóa một cách khoa học giúp cho người đọc dễ quan sát, quá trình phân tích dễ dàng hơn mà kết quả mang lại cao hơn.
Từ đó, tác giả có thể đưa ra những kết luận chính xác nhất và những giải pháp mang lại hiệu quả cho Công ty. Đánh giá tổng quan tình hình và ảnh hưởng của những nhân tố môi trường tới phát triển thương mại sản phẩm Máy công trình của công ty Cổ phần thiết bị và xây lắp công nghiệp. Đánh giá tổng quan thực trạng PTTM sản phẩm Máy công trình của Công ty Cổ phần Thiết bị và Xây lắp Công nghiệp. Trong 5 năm qua, quy mô hoạt động PTTM sản phẩm Máy công trình của Công ty Cổ phần Thiết bị và Xây lắp Công nghiệp đã có những sự thay đổi rõ nét.
Quy mô PTTM của công ty cũng có những biến đổi nhất định. Sự thay đổi này được thể hiện rõ nhất ở sản lượng Máy nhập vào hay sản lượng Máy tiêu thụ của Công ty Đặng Thị Thanh Loan Lớp: K42F6 21 Luan van Trường Đại học Thương mại Luận văn tốt nghiệp trên thị trường qua từng năm. Trung bình mỗi năm số lượng Máy nhập khẩu của Công ty tăng từ 20% - 25%. Cùng với tốc độ tăng trưởng nguồn cung của Công ty là tốc độ tăng tương ứng của sản lượng tiêu thụ.
Tuy vậy, tốc độ tăng trưởng ở mỗi năm không đồng đều. Ngay cả trong cùng một năm sức tiêu thụ các loại máy của côn g ty cũng có sự khác biệt giữa các thị trường, điều đó được thể hiện rõ nét nhất giữa thị trường Quảng Ninh so với các thị trường khác. Thị trường Quảng Ninh chiếm thị phần lớn nhất trong cơ cấu thị trường của công ty, đây được coi là thị trường chủ chốt mà công ty đang hoạt động. Chất lượng phát triển thương mại sản phẩm máy công trình của Công ty.
Trước hết chất lượng PTTM máy công trình của công ty được thể hiện ở chất lượng của các loại máy. Chất lượng của từng loại máy lại được thể hiện qua thời gian hoạt động của máy, ví dụ như: Cứ 3000 giờ hoạt động thì máy lại phải bảo dưỡng một lần để nâng cao chất lượng và hiệu quả sử dụng. Ngoài ra chất lượng của PTTM sản phẩm máy công trình còn được thể hiện ở cơ cấu các loại máy trong công ty. Sự đa dạng trong cơ cấu các loại máy chính là sự thay đổi các loại máy, khác nhau về kiểu dáng, chức năng và đặc biệt là ở trọng tải của từng loại máy.
Cùng một loại Máy nhưng mỗi năm Công ty nâng cấp những đời khác nhau, trọng tải, năng suất hoạt động cao hơn. Trong 5 năm qua, Công ty liên tục thay đổi cơ cấu sản phẩm tiêu thụ. Những loại Máy trọng tải lớn, khối lượng gầu xúc cao, độ khoan sâu được thay thế cho những loại có công suất thấp hơn để thỏa mãn nhu cầu của khách hàng. Nếu như năm 2005 Công ty chỉ tiêu thụ những loại Máy công trình có trọng tải nhỏ vào khoảng 30 – 40 tấn thì cho tới nay 2010 Công ty bắt đầu nhập khẩu những loại có trọng tải lớn lên tới 60 – 70 tấn và xu hướng là những loại trọng tải và công suất hoạt động cao hơn nữa.
Sau những nỗ lực từ việc nâng cao sản lượng tiêu thụ máy, thay đổi đa dạng hóa các loại máy mà công ty cung cấp, hiệu quả của hoạt động PTTM sản phẩm Máy công trình của Công ty đạt được cũng rất đáng quan tâm. Lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh Máy công trình mang lại của công ty tính từ năm 2005 trở lại đây trung bình mỗi năm ước tính khoảng 24,25 tỷ đồng chiếm khoảng 16,66% doanh thu bán hàng. Mỗi năm Công ty phải bỏ ra một lượng vốn lớn để nhập khẩu các loại Máy công trình cùng với đó là các khoản chi phí khác như: thuế nhập khẩu, thuế giá trị gia tăng - VAT, chi phí vận chuyển, chi phí nhân công và rất nhiều khoản chi phí Đặng Thị Thanh Loan Lớp: K42F6 22 Luan van Trường Đại học Thương mại Luận văn tốt nghiệp khác mà doanh nghiệp phải chịu, nhưng mức lợi nhuận mà Công ty thu được khá lớn. Hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực: Do số lượng nhân viên trong Công ty không nhiều hơn thế đặc thù của loại sản phẩm kinh doanh của Công ty lại có giá cả rất cao vì thế mà mức doanh lợi mà mỗi công nhân, nhân viên mang lại cho Công ty là rất lớn, trung bình mỗi năm mỗi nhân viên mang lại cho Công ty một mức lợi nhuận vào khoảng 700 triệu đồng.
Bên cạnh hoạt động PTTM của Công ty với mục đích chính là tạo ra nhiều lợi nhuận, Công ty còn quan tâm tới đời sống của cán bộ công nhân viên. Điều đó được thể hiện qua mức lương, thưởng của nhân viên với mức lương trung bình ở vào khoảng 8-10 triệu đồng / tháng. Hoạt động xã hội Công ty cũng tham gia nhiệt tình như tham gia vào các quỹ từ thiện như: Quỹ tấm lòng vàng, Hội bảo trợ người khuyết tật và trẻ em mồ côi… 3. Các nhân tố môi trường ảnh hưởng tới hoạt động PTTM sản phẩm Máy công trình của Công ty Cổ phần Thiết bị và Xây lắp Công nghiệp.
Bản thân Công ty. Thứ nhất: Về nguồn lực nội tại của công ty. Nguồn lực hữu hình. Nguồn vốn kinh doanh, tình hình tài chính quyết định tới hoạt động kinh doanh của Công ty, quyết định tới lượng hàng hóa nhập khẩu, khối lượng Máy công trình nhập khẩu hàng năm, đồng thời ảnh hưởng tới các chi phí khác trong quá trình PTTM sản phẩm của Công ty.
Khoa học kỹ thuật, Thiết bị, máy móc phục vụ cho hoạt động PTTM phản ánh năng suất và hiệu quả của hoạt động PTTM của toàn Công ty. Các thiết bị phục vụ cho hoạt động nhập khẩu và tiêu thụ Máy công trình trên thị trường tiên tiến thì hiệu quả mang lại cao hơn.