CHƯƠNG 1 M Ộ T SỚ V Ấ N Đ Ề C ơ BẢ N VỀ T H Ị T R Ư Ờ N G T R Á I P H IÉ U C Ô N G TY 1.1 TRÁI PHIẾU VÀ TRÁI PHIẾU CÔNG TY 1.1 K hái niệm và đặc điểm chung của trái phiếu 1.1 Khái niệm Theo Luật chứng khoán năm 2006, trái phiếu là loại chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đôi với một phân vôn nợ của tổ chức phát hành.2 Đặc điểm chung của trải phiếu Bản chất của trái phiếu là giấy xác nhận nợ vì vậy trái phiêu bao gôm các tiêu chí của một giấy xác nhận nợ. Đặc điểm của trái phiêu có thê liệt kê như sau: a. Trái phiếu cỏ mệnh giá Mệnh giá trái phiếu là số tiền ghi trên bề mặt của trái phiếu ở dạng chứng chỉ, nó là căn cứ để xác định khoản vôn gôc mà nhà phát hành phải hoàn trả cho nhà đầu tư khi trái phiếu đáo hạn. Mệnh giá trái phiêu có thê do luật quy định.
Giả trái phiếu Giá trái phiếu là khoản tiền thực tế người mua bỏ ra để có được quyền sở hữu trái phiếu. Giá mua có thể là “ngang giá” (tức là trả băng mệnh giá), có thể là “giá gia tăng” (cao hơn mệnh giá) hoặc “giá chiết khấu” (thấp hơn mệnh giá). Đối với trái phiếu kèm phiếu trả lãi (coupon bonds): là những trái phiếu được cung cấp kèm một phiếu trả lãi cố định hàng năm. Phiếu trả lãi mang lại cho người chủ trái phiếu một khoản lợi tức hàng năm mà khoản lợi tức này là 5 một phần cố định về giá trị bề ngoài của trái phiếu.
Giá trị toàn bộ của trái phiếu được trả lại theo thời hạn đáo hạn thanh toán (maturity date) của trái phiếu. Do giá của trái phiếu có thể cao hơn hoặc thấp hơn giá trị bề ngoài của trái phiếu, lợi tức của một trái phiếu cũng có thể gồm cả phiếu trả lãi đi kèm và lợi tức vốn. Khi giá của trái phiếu tăng, lợi tức của trái phiếu giảm (do phiếu trả lãi đi kèm và việc chi trả tại thời hạn thanh toán là cố định). Vì vậy, có mối quan hệ nghịch đảo giữa giá của trái phiếu và lợi tức của trái phiếu [Mishkin, 2001].
Đối với trái phiếu chiết khấu (Discount bonds): không đi kèm phiếu trả lãi suất, nhưng thay vào đó nó được bán tại mức giá thấp hơn mức giá danh nghĩa. Sự khác biệt giữa giá mua trái phiếu và giá trị của nó khi nó được bán mang lại lợi tức cho người chủ trái phiếu. Có ba loại lợi tức đối với trái phiếu, đó là: lợi tức danh nghĩa, lợi tức hoàn vốn hiện hành và lợi tức đáo hạn [Mishkin, 2001]. Lợi tức danh nghĩa chính là lãi suất của trái phiếu.
Do tỷ lệ lãi suất và mệnh giá không thay đổi trong kỳ hạn nên lợi tức danh nghĩa không thay đổi. Tuy nhiên lợi tức danh nghĩa chỉ nói lên được nhà phát hành phải trả lãi suất trái phiếu đó là bao nhiêu. Điều mà các nhà kinh tế muốn đề cập đến khi nói về lãi suất chính là lãi suất hoàn vốn. Lãi suất hoàn vốn đối với một công cụ tài chính là lãi suất mà ở đó có thể làm cân bằng giá trị hiện tại của một món phải hoàn trả trong tương lai theo chính công cụ đó với giá trị hiện tại của nó.
Để tính lãi suất hoàn vốn đối với một trái phiếu có coupon, người ta sử dụng phương pháp tính như đổi với một món tiền vay trả cố định theo công thức sau: c c c c F p B = -------- + --------- + ---------+ + ---------+ -------- 1+ i (1 +i)2 (1 +i)3 (1 +i)n (1 +i)n Trong đỏ: c là tiền coupon hàng năm F là mệnh giá của trải phiếu N là sổ năm tính đến ngày đảo hạn PBlà giả của trải phiếu coupon 6 M ộ t tr á i p h iế u c h iế t k h ấ u g iá trị h iệ n tạ i đ ư ợ c tín h th e o c ô n g th ứ c s a u : F P b = --------------- (l+i)n Trong đó: F là mệnh giá của trái phiếu n là sổ năm đến ngày đáo hạn PBlà giá của trải phiếu chiêt khẩu Giữa giá trị hiện tại và lãi suất hoàn vốn của một trái phiếu có coupon có quan hệ nghịch chiều: giá càng cao thì lãi suất hoàn vôn càng thâp và ngược lại. Lãi suất hoàn vốn hiện hành được hình thành khi mua bán trái phiếu trên thị trường được xác định theo công thức: c I c = -------- Pb Trong đó: Ic là lãi suất hoàn von hiện hành PBlà giá trải phiếu coupon c là tiền lãi coupon hàng năm Lãi suất hoàn vốn hiện hành tỷ lệ nghịch với giá của trái phiêu. Lãi suât hoàn vốn hiện hành càng gần với lãi suất hoàn vốn nếu giá trái phiêu càng gân với mệnh giá của chúng khi kỳ đáo hạn càng gần; lãi suất hoàn vôn hiện hành càng xa với lãi suất hoàn vốn nếu giá trái phiếu càng xa với mệnh giá của nó khi thời hạn đáo hạn càng dài. Lợi tức đáo hạn hay còn gọi là lợi tức đầu tư trái phiếu là mức sinh lời của trái phiếu dựa trên lãi suất, thời hạn đáo hạn, giá mua trái phiếu trên thị trường.
Lợi tức hay nói chính xác hơn là tỷ suất lợi tức đôi với một trái phiêu bất kỳ là tiền trả cho chủ sở hữu nó cộng với sự thay đôi vê giá trị của chứng khoán đó rồi chia cho giá mua, theo công thức: C + PtH-Pt RET = Pt 7 Trong đó: RET là lợi tức do nắm giữ trải phiếu từ t đến t + 1 Pị là giả trái phiếu ở thời điểm t p t+Ị là giá trái phiếu ở thời điểm t + 1 c là tiền lãi coupon Lợi tức của một trái phiếu không nhất thiết bằng lãi suất của trái phiếu đó, song giữa lãi suất và lợi tức của một trái phiếu có mối quan hệ hết sức chặt chẽ: Lợi tức của trái phiếu bằng với lãi suất hoàn vốn ban đầu nếu có thời hạn nắm giữ bằng thời hạn tính đến ngày đáo hạn; một sự tăng lãi suất đi kèm với sự giảm giá trái phiếu và vì vậy dẫn đến mất vốn đối với những trái phiếu mà thời gian đáo hạn dài hơn thời gian nắm giữ; kỳ hạn thanh toán của trái phiếu càng dài thì lợi tức càng thấp nếu xảy ra việc tăng lãi suất; mặc dù lãi suất hoàn vốn ban đầu là dương, lợi tức có thể là âm nếu lãi suất tăng. Mối quan hệ giữa lãi suất danh nghĩa, lãi suất hoàn vốn hiện hành và lợi suất đáo hạn được tóm tắt như sau: B áng 1.1: M ối quan hệ giữa các thước đo lợi suất trái phiếu T rái phiếu bán theo M ối quan hệ Mệnh giá Lãi suất danh nghĩa = Lãi suất hoàn vốn = Lợi suất đáo hạn hiện hành Giá chiết khấu Lãi suất danh nghĩa < Lãi suất hoàn vốn < Lợi suất (Dưới mệnh giá) đáo hạn hiện hành Giá phụ trội Lãi suất danh nghĩa > Lãi suất hoàn vốn > Lợi suất (Trên mệnh giá) đáo hạn hiện hành -----------------------------------------y-- c. Người sở hữu trái phiêu Người sở hữu trái phiếu (hay trái chủ) được coi là “chủ nợ” đối với tổ chức phát hành trái phiếu. Trong bất kỳ điều kiện nào, trái chủ cũng có quyền được hưởng đủ các khoản thanh toán lãi và hoàn trả gốc khi đáo hạn như đã cam kết.
Bên cạnh đó, giống như các cổ đông sở hữu cổ phiếu, trái chủ cũng có quyền được cung 8 Cấp tất cả những thông tin về tình hình kinh doanh, kêt quả cũng như triên vọng trong tưong lai của bên phát hành trái phiếu. Trong trường hợp công ty bị phá sản, trái chủ sẽ được ưu tiên thanh toán tài sản thanh lý trước các cổ đông. Tuy nhiên, trái chủ không được tham gia vào những quyết định của tổ chức phát hành, và cũng không được hưởng thêm bât kỳ các quyền lợi nào ngoài những khoản tổ chức phát hành đã cam kết. Trái phiếu có thời hạn Thời hạn của trái phiếu là thời hạn đi vay của tổ chức phát hành đôi với trái chủ và được ghi rõ trên bề mặt của trái phiếu.
Thời hạn của trái phiếu bao gồm: Thời hạn đáo hạn và thời hạn trung bình. Hai khái niệm này không hoàn toàn tưong đưong nhau bởi trái phiếu có thể được hoàn vốn khi đáo hạn, nhưng cũng có thể được hoàn vốn trước hạn toàn bộ hoặc từng phần. Nếu toàn bộ vốn của trái phiếu được hoàn trả khi đáo hạn, thì trái phiếu có thời hạn đáo hạn bằng thời hạn trung bình của trái phiếu. Nếu hoàn vốn trước hạn từng phần thì trái phiếu có thời hạn đáo hạn dài hon thời hạn trung bình của trái phiếu.
Thời hạn đáo hạn là khoảng thời gian tính đến ngày hết hạn của trái phiếu. Thời hạn trung bình là thời gian mà toàn bộ 100% số tiền của trái phiếu (mệnh giá) được sử dụng trong suốt thời gian đó. n I Ri *t i= l AM = -------------- n IRi i= l Trong đỏ: AM là thời hạn trung bình của trải phiếu Rị là sổ tiền hoàn vốn tại năm i t là thời hạn hoàn vốn Thời hạn của trái phiếu có ảnh hưởng trực tiếp đến giá trái phiếu trên thị trường, lợi tức trái phiếu và rủi ro trái phiếu. Thời hạn đáo hạn chỉ là thời hạn danh nghĩa của trái phiếu.
Thời hạn trung bình mới là thời hạn thực tế của 9 trái phiếu. Do đó, để đánh giá đúng mức độ ảnh hưởng của trái phiếu thì người ta phải căn cứ vào thời hạn trung bình.3 Phân loại trải phiếu Trái phiếu có thể được phân chia thành nhiều loại khác nhau tuỳ theo nhiều tiêu thức phân chia: a. Căn cứ vào việc trái phiếu có ghi danh hay không - Trái phiếu vô danh: là trái phiếu không mang tên trái chủ, cả trên chứng chỉ cũng như trên sổ sách của người phát hành. Những phiêu trả lãi đính theo tờ chứng chỉ, và khi đến hạn trả lãi, người giữ trái phiếu chỉ việc xé ra và mang tới ngân hàng nhận lãi.
Khi trái phiếu đáo hạn, người nắm giữ nó mang chứng chỉ tới ngân hàng để nhận lại khoản cho vay. - Trái phiếu ghi danh: là loại trái phiếu có ghi tên và địa chỉ của trái chủ, trên chứng chỉ và trên sổ của người phát hành. Hình thức ghi danh có thê chỉ thực hiện cho phần vốn gốc, cũng có thể là ghi danh toàn bộ, cả gôc lân lãi. Dạng ghi danh toàn bộ mà đang ngày càng phổ biến là hình thức ghi sổ.