Luận văn: Thực trạng & Giải pháp phát triển rừng trồng tại Thạch Hà, Hà Tĩnh

Luận văn thạc sĩ phân tích thực trạng, đề xuất giải pháp phát triển bền vững rừng trồng tại huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh giai đoạn mới.

Trường đại học

Trường Đại học Lâm Nghiệp

Chuyên ngành

Khoa Học Lâm Nghiệp

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sỹ

2014

158
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC KÝ HIỆU VÀ TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC HÌNH

ĐẶT VẤN ĐỀ

1. Chương 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Trên thế giới

1.1.1. Những nghiên cứu về lập địa

1.1.2. Những nghiên cứu về giống

1.1.3. Những nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ

1.1.4. Nghiên cứu ảnh hưởng của bón phân đến sinh trưởng và năng suất rừng trồng

1.1.5. Nghiên cứu về chính sách và thị trường

1.1.6. Nghiên cứu về xói mòn đất

1.2. Tại Việt Nam

1.2.1. Nghiên cứu về lập địa

1.2.2. Nghiên cứu về giống

1.2.3. Nghiên cứu ảnh hưởng của biện pháp làm đất

1.2.4. Nghiên cứu ảnh của phân bón đến năng suất rừng trồng

1.2.5. Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ đến năng suất rừng trồng

1.2.6. Nghiên cứu về chính sách, kinh tế và thị trường

1.3. Phương pháp nghiên cứu đánh giá hiệu quả mô hình rừng

1.4. Đánh giá chung

2. Chương 2: MỤC TIÊU, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Mục tiêu nghiên cứu

2.1.1. Mục tiêu tổng quát

2.1.2. Mục tiêu cụ thể

2.2. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

2.2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.2.2. Phạm vi nghiên cứu

2.3. Nội dung nghiên cứu

2.3.1. Nghiên cứu thực trạng rừng trồng huyện Thạch Hà

2.3.2. Nghiên cứu ảnh hưởng của chính sách và thị trường lâm sản tới phát triển rừng trồng khu vực nghiên cứu

2.3.3. Nghiên cứu, đánh giá hiệu quả các mô hình rừng trồng trong huyện

2.3.4. Nghiên cứu đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả phát triển trồng rừng huyện Thạch Hà

2.4. Phương pháp nghiên cứu

2.4.1. Quan điểm nghiên cứu và cách tiếp cận của đề tài

2.4.2. Phương pháp nghiên cứu tổng quát

2.4.3. Phương pháp nghiên cứu cụ thể

3. Chương 3: ĐẶC ĐIỂM KHU VỰC NGHIÊN CỨU

3.1. Đặc điểm cơ bản của Huyện Thạch Hà - Tỉnh Hà Tĩnh

3.2. Đặc điểm tự nhiên của Huyện Thạch Hà

3.3. Tài nguyên thiên nhiên

3.4. Thực trạng môi trường

3.5. Đặc điểm kinh tế - xã hội Huyện Thạch Hà - Tỉnh Hà Tĩnh

4. Chương 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

4.1. Thực trạng rừng trồng tại huyện Thạch Hà

4.1.1. Các giai đoạn phát triển rừng trồng huyện Thạch Hà

4.1.2. Nguồn vốn, mục tiêu và cơ cấu cây rừng trồng ở huyện Thạch Hà

4.1.3. Diện tích rừng trồng ở huyện Thạch Hà

4.2. Ảnh hưởng của chính sách và thị trường lâm sản đến phát triển rừng trồng huyện Thạch Hà

4.2.1. Ảnh hưởng của các chính sách tới phát triển rừng trồng huyện Thạch Hà

4.2.2. Ảnh hưởng của thị trường lâm sản đến phát triển rừng trồng huyện Thạch Hà

4.3. Đánh giá hiệu quả các mô hình rừng trồng trong huyện

4.3.1. Đánh giá tính phù hợp các loài cây

4.3.2. Đánh giá mô hình rừng trồng điển hình huyện Thạch Hà

4.3.3. Đánh giá hiệu quả kinh tế-xã hội và môi trường của các mô hình điển hình

4.4. Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển rừng trồng huyện Thạch Hà

4.4.1. Những quan điểm và định hướng chung

4.4.2. Các giải pháp về chính sách

4.4.3. Các giải pháp về kỹ thuật

4.4.4. Các giải pháp về kinh tế- xã hội

KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Đánh giá toàn diện thực trạng rừng trồng ở Thạch Hà Hà Tĩnh

Huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh, sở hữu tiềm năng lớn về đất đai để phát triển rừng trồng, với diện tích đất lâm nghiệp chiếm một tỷ trọng đáng kể trong cơ cấu sử dụng đất. Trong những năm qua, công tác trồng rừng đã đạt được những kết quả nhất định, góp phần tăng độ che phủ, bảo vệ môi trường và tạo việc làm. Tuy nhiên, theo luận văn thạc sỹ của Võ Anh Đức (2014), việc phát triển rừng trồng tại đây vẫn còn nhiều hạn chế, chưa tương xứng với tiềm năng sẵn có. Các mô hình trồng rừng chủ yếu vẫn mang tính tự phát, quy mô nhỏ lẻ, thiếu sự đầu tư bài bản về kỹ thuật và giống. Năng suất và hiệu quả kinh tế từ rừng trồng còn thấp, chưa tạo ra bước đột phá trong việc cải thiện sinh kế người dân. Rừng trồng chủ yếu là các loài cây mọc nhanh như Keo, Bạch đàn, phục vụ cho ngành công nghiệp dăm gỗ, giá trị kinh tế không cao. Việc đánh giá một cách toàn diện thực trạng sẽ là cơ sở quan trọng để xác định đúng những điểm nghẽn và đề xuất các giải pháp khả thi, hướng tới phát triển lâm nghiệp bền vững tại địa phương. Quá trình này đòi hỏi sự phân tích sâu sắc về cơ cấu cây trồng, nguồn vốn đầu tư, các chính sách đã triển khai và mức độ tham gia của cộng đồng, từ đó định hình một chiến lược phát triển rõ ràng và hiệu quả hơn.

1.1. Lợi thế về điều kiện tự nhiên và hiện trạng sử dụng đất

Thạch Hà có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho lâm nghiệp, với địa hình chủ yếu là đồi núi thấp, chiếm phần lớn diện tích. Theo số liệu năm 2011 được trích dẫn trong tài liệu gốc, huyện có 9.024 ha đất lâm nghiệp, chiếm 25,4% tổng diện tích tự nhiên. Điều này tạo ra một quỹ đất dồi dào cho việc mở rộng và quy hoạch vùng trồng rừng tập trung. Khí hậu nhiệt đới gió mùa, lượng mưa tương đối lớn cũng là yếu tố tích cực cho sự sinh trưởng của nhiều loài cây lâm nghiệp. Tuy nhiên, việc sử dụng đất vẫn chưa tối ưu. Phần lớn diện tích rừng trồng hiện nay là rừng sản xuất với các loài cây chu kỳ ngắn, chưa phát huy hết tiềm năng về trồng cây gỗ lớn hay các mô hình nông lâm kết hợp để tăng giá trị trên một đơn vị diện tích.

1.2. Vai trò của kinh tế đồi rừng Thạch Hà trong sinh kế người dân

Hoạt động trồng rừng đã và đang đóng vai trò quan trọng trong cơ cấu kinh tế đồi rừng Thạch Hà, đặc biệt tại các xã vùng đồi núi phía Tây như Thạch Điền, Nam Hương, Thạch Xuân. Rừng trồng không chỉ cung cấp nguồn thu nhập từ việc bán gỗ nguyên liệu mà còn tạo ra việc làm thời vụ cho lao động địa phương trong các khâu trồng, chăm sóc và khai thác. Theo khảo sát, nhiều hộ gia đình đã thoát nghèo nhờ vào nguồn thu từ rừng. Mặc dù vậy, mức độ tham gia của người dân vào hoạt động lâm nghiệp vẫn chưa đồng đều và hiệu quả mang lại chưa thực sự bền vững. Thu nhập từ rừng vẫn còn bấp bênh do phụ thuộc nhiều vào thị trường và giá cả nguyên liệu thô, đòi hỏi cần có các giải pháp để nâng cao giá trị sản phẩm và ổn định đầu ra.

II. Những thách thức cản trở phát triển rừng trồng tại Thạch Hà

Mặc dù có nhiều tiềm năng, việc phát triển rừng trồng ở Thạch Hà vẫn đối mặt với không ít thách thức và rào cản. Một trong những khó khăn lớn nhất là kỹ thuật canh tác còn hạn chế và manh mún. Người dân chủ yếu trồng rừng theo kinh nghiệm, chưa tiếp cận rộng rãi với các tiến bộ khoa học công nghệ trong lâm nghiệp. Việc lựa chọn giống cây trồng chưa được chú trọng, dẫn đến năng suất rừng trồng còn thấp, chất lượng gỗ không đồng đều. Bên cạnh đó, các chính sách hỗ trợ trồng rừng dù đã được ban hành nhưng quá trình triển khai còn nhiều bất cập, đặc biệt là chính sách về đất đai, tín dụng và hưởng lợi. Người trồng rừng gặp khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vay vốn trồng rừng sản xuất với lãi suất ưu đãi. Thị trường tiêu thụ lâm sản cũng là một vấn đề lớn. Việc liên kết sản xuất và tiêu thụ giữa người dân và doanh nghiệp còn lỏng lẻo. Hầu hết sản phẩm được bán dưới dạng nguyên liệu thô cho tư thương với giá thấp, chưa hình thành được chuỗi giá trị ngành gỗ hoàn chỉnh. Tình trạng cháy rừng và sâu bệnh hại cũng là những mối đe dọa thường trực, gây thiệt hại không nhỏ về kinh tế và môi trường. Việc giải quyết đồng bộ các thách thức này là yêu cầu cấp bách để lâm nghiệp Thạch Hà phát triển đúng hướng.

2.1. Hạn chế từ chính sách và công tác quy hoạch vùng trồng rừng

Nghiên cứu của Võ Anh Đức (2014) chỉ ra rằng, mặc dù nhà nước đã có các chính sách giao đất, giao rừng nhưng việc triển khai ở Thạch Hà còn chậm và gặp vướng mắc. Nhiều diện tích đất lâm nghiệp chưa có chủ thực sự, gây khó khăn cho việc đầu tư dài hạn. Công tác quy hoạch vùng trồng rừng chưa được thực hiện một cách chi tiết, dẫn đến tình trạng trồng rừng tự phát, không phù hợp với điều kiện lập địa. Các chính sách về tín dụng, thuế và hưởng lợi chưa đủ mạnh để khuyến khích người dân và doanh nghiệp đầu tư vào trồng rừng kinh tế Hà Tĩnh một cách bài bản, đặc biệt là các mô hình trồng cây gỗ lớn có chu kỳ kinh doanh dài.

2.2. Khó khăn trong việc tiếp cận giống và kỹ thuật thâm canh

Chất lượng giống cây trồng là yếu tố quyết định đến năng suất, nhưng đây lại là một điểm yếu lớn. Nguồn giống giống cây keo lai, bạch đàn tại địa phương chủ yếu do người dân tự sản xuất hoặc mua từ các cơ sở nhỏ lẻ, không đảm bảo chất lượng. Việc áp dụng các mô hình trồng rừng thâm canh còn rất hạn chế. Các biện pháp kỹ thuật như làm đất, bón phân, tỉa thưa chưa được áp dụng đúng quy trình, làm giảm hiệu quả kinh tế từ rừng trồng. Năng suất bình quân chỉ đạt mức trung bình, thấp hơn nhiều so với tiềm năng nếu được đầu tư thâm canh đúng mức. Thiếu các chương trình tập huấn, chuyển giao kỹ thuật hiệu quả cũng là một rào cản lớn.

III. Phương pháp khoa học kỹ thuật cho rừng trồng ở Thạch Hà

Để nâng cao năng suất và chất lượng, việc áp dụng các giải pháp khoa học kỹ thuật là yếu tố then chốt cho sự phát triển rừng trồng ở Thạch Hà. Ưu tiên hàng đầu là công tác giống. Cần quy hoạch và xây dựng các vườn ươm, vườn giống đủ tiêu chuẩn, cung cấp các dòng giống cây keo lai, bạch đàn đã được công nhận, có năng suất cao và khả năng kháng bệnh tốt. Các cơ quan chuyên môn như Chi cục Kiểm lâm Thạch HàSở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Hà Tĩnh cần tăng cường công tác quản lý chất lượng giống trên địa bàn. Tiếp theo, cần phổ biến và nhân rộng các mô hình trồng rừng thâm canh. Điều này bao gồm việc áp dụng đồng bộ các biện pháp kỹ thuật từ khâu làm đất, xác định mật độ trồng hợp lý, bón phân cân đối, đến chăm sóc và tỉa thưa định kỳ. Đặc biệt, cần khuyến khích các mô hình trồng cây gỗ lớn, chuyển từ kinh doanh gỗ nhỏ sang gỗ lớn để nâng cao giá trị gia tăng. Ứng dụng khoa học công nghệ trong lâm nghiệp như GIS trong quy hoạch, các biện pháp sinh học trong phòng trừ sâu bệnh, và cơ giới hóa một số khâu sản xuất sẽ giúp giảm chi phí và tăng hiệu quả. Công tác phòng chống cháy rừng cũng cần được chú trọng thông qua việc xây dựng các đường băng cản lửa, trang bị phương tiện và nâng cao nhận thức cộng đồng.

3.1. Tuyển chọn và phát triển giống cây trồng năng suất cao

Giải pháp nền tảng là phải cải thiện chất lượng giống. Cần loại bỏ dần các giống cây không rõ nguồn gốc, năng suất thấp. Thay vào đó, tập trung đưa vào sản xuất các dòng Keo lai như BV10, BV33 hoặc các dòng Bạch đàn Uro có khả năng sinh trưởng nhanh, đã được chứng minh hiệu quả tại các vùng có điều kiện tương tự. Luận văn của Võ Anh Đức nhấn mạnh tầm quan trọng của giống, cho thấy các mô hình sử dụng giống tốt có thể cho năng suất cao hơn từ 1,5 đến 2 lần so với giống đại trà. Việc xây dựng các mô hình trình diễn giống mới là cần thiết để người dân trực tiếp thấy được hiệu quả và tin tưởng áp dụng.

3.2. Áp dụng mô hình trồng rừng thâm canh và trồng cây gỗ lớn

Chuyển đổi từ trồng rừng quảng canh sang thâm canh là xu thế tất yếu. Mô hình trồng rừng thâm canh đòi hỏi sự đầu tư bài bản về phân bón, kỹ thuật chăm sóc. Nghiên cứu chỉ ra rằng, việc bón lót và bón thúc hợp lý có thể tăng sinh trưởng của cây trồng lên 30-50% trong những năm đầu. Bên cạnh đó, cần có định hướng chiến lược về việc trồng cây gỗ lớn. Thay vì khai thác non ở chu kỳ 5-7 năm để bán gỗ dăm, cần kéo dài chu kỳ lên 10-15 năm. Điều này không chỉ cung cấp gỗ xẻ có giá trị cao hơn nhiều lần mà còn giúp cải thiện môi trường đất, nước và tăng khả năng thích ứng biến đổi khí hậu.

IV. Cách xây dựng chuỗi giá trị bền vững cho rừng trồng Thạch Hà

Để phát triển rừng trồng ở Thạch Hà một cách bền vững, không thể chỉ tập trung vào khâu sản xuất mà cần xây dựng một chuỗi giá trị hoàn chỉnh. Yếu tố cốt lõi là tăng cường liên kết sản xuất và tiêu thụ theo mô hình 4 nhà (Nhà nước - Nhà khoa học - Doanh nghiệp - Nhà nông). Nhà nước đóng vai trò kiến tạo thông qua các chính sách hỗ trợ trồng rừng và quy hoạch. Các doanh nghiệp chế biến lâm sản cần được khuyến khích đầu tư vào địa bàn, ký kết hợp đồng bao tiêu sản phẩm với người dân, đảm bảo đầu ra ổn định và giá cả hợp lý. Việc hình thành các tổ hợp tác, hợp tác xã trồng rừng sẽ giúp các hộ dân nhỏ lẻ liên kết lại, tạo ra vùng nguyên liệu đủ lớn, có chất lượng đồng đều, tăng sức mạnh đàm phán trên thị trường. Một hướng đi quan trọng khác là phát triển thị trường cho các sản phẩm có giá trị gia tăng cao. Thay vì chỉ xuất khẩu dăm gỗ thô, cần đầu tư công nghệ để sản xuất ván ép, viên nén năng lượng, đồ gỗ nội thất. Hướng tới việc đạt được chứng chỉ rừng FSC là một mục tiêu chiến lược, giúp sản phẩm gỗ từ Thạch Hà có thể thâm nhập vào các thị trường khó tính với giá bán cao hơn, từ đó hoàn thiện chuỗi giá trị ngành gỗ.

4.1. Tăng cường liên kết sản xuất tiêu thụ và chế biến lâm sản

Mối liên kết lỏng lẻo hiện nay là một trong những nguyên nhân chính khiến hiệu quả kinh tế từ rừng trồng chưa cao. Cần xây dựng các mô hình liên kết chặt chẽ, trong đó doanh nghiệp cung ứng giống, vật tư, hỗ trợ kỹ thuật và cam kết bao tiêu sản phẩm. Người dân có trách nhiệm tuân thủ quy trình kỹ thuật để tạo ra sản phẩm đạt chuẩn. Chính quyền địa phương, đặc biệt là Phòng Nông nghiệp huyện Thạch Hà, đóng vai trò cầu nối, giám sát việc thực hiện hợp đồng. Đồng thời, cần có chính sách thu hút đầu tư vào lĩnh vực chế biến lâm sản sâu, tạo ra các sản phẩm cuối cùng ngay tại địa phương, giữ lại giá trị gia tăng thay vì chỉ bán nguyên liệu thô.

4.2. Hướng tới chứng chỉ rừng FSC để nâng cao giá trị sản phẩm

Trong bối cảnh hội nhập, quản lý rừng bền vững và có chứng chỉ là yêu cầu bắt buộc để tiếp cận các thị trường xuất khẩu lớn. Chứng chỉ rừng FSC (Forest Stewardship Council) không chỉ là một "giấy thông hành" cho sản phẩm gỗ mà còn là bằng chứng cho việc sản xuất có trách nhiệm với môi trường và xã hội. Việc xây dựng các vùng rừng trồng theo tiêu chuẩn FSC sẽ giúp nâng cao giá trị gỗ lên 20-30%, đồng thời thúc đẩy việc áp dụng các quy trình quản lý tiên tiến, góp phần vào mục tiêu phát triển lâm nghiệp bền vững.

V. Hoàn thiện chính sách hỗ trợ phát triển rừng trồng Thạch Hà

Chính sách là đòn bẩy quan trọng thúc đẩy phát triển rừng trồng ở Thạch Hà. Cần một hệ thống chính sách đồng bộ và thực tiễn, tháo gỡ các nút thắt hiện nay. Trước hết, cần đẩy nhanh tiến độ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp cho các hộ gia đình, cá nhân. Đây là cơ sở pháp lý vững chắc để người dân yên tâm đầu tư dài hạn và sử dụng đất làm tài sản thế chấp để vay vốn trồng rừng sản xuất. Tiếp theo, cần cải cách cơ chế tín dụng cho lâm nghiệp. Các ngân hàng cần có gói tín dụng ưu đãi với chu kỳ vay phù hợp với chu kỳ sinh trưởng của cây rừng, đặc biệt là các mô hình trồng cây gỗ lớn. Nhà nước có thể hỗ trợ một phần lãi suất để giảm gánh nặng tài chính cho người trồng rừng. Ngoài ra, chính sách hỗ trợ trồng rừng cũng cần bao gồm việc trợ giá giống cây chất lượng cao, hỗ trợ chi phí cho việc áp dụng các biện pháp thâm canh và chi phí để đạt được chứng chỉ rừng FSC. Các chính sách về thuế, phí liên quan đến khai thác và vận chuyển lâm sản cũng cần được rà soát để tạo điều kiện thuận lợi, giảm chi phí cho người sản xuất. Sự vào cuộc quyết liệt của các cơ quan quản lý như Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Hà Tĩnh sẽ đảm bảo các chính sách này đi vào cuộc sống một cách hiệu quả.

5.1. Tối ưu hóa quy hoạch và chính sách giao đất lâm nghiệp

Công tác rà soát, điều chỉnh và công bố rộng rãi quy hoạch vùng trồng rừng là nhiệm vụ cấp bách. Quy hoạch phải xác định rõ vùng nào trồng rừng sản xuất, vùng nào trồng rừng phòng hộ, và định hướng loài cây trồng phù hợp với từng lập địa. Song song đó, cần hoàn thành việc giao đất, giao rừng, đảm bảo "đất có chủ, rừng có chủ". Việc có "sổ đỏ" sẽ giúp người dân không chỉ an tâm sản xuất mà còn dễ dàng tiếp cận các nguồn vốn tín dụng chính thức, giảm bớt sự phụ thuộc vào tín dụng phi chính thức với lãi suất cao.

5.2. Đa dạng hóa nguồn vốn và cơ chế vay vốn trồng rừng sản xuất

Nguồn vốn là yếu tố quyết định quy mô và mức độ thâm canh. Ngoài nguồn vốn từ ngân sách nhà nước và các chương trình mục tiêu, cần đa dạng hóa các kênh huy động vốn khác. Khuyến khích doanh nghiệp tư nhân đầu tư vào trồng rừng thông qua các chính sách ưu đãi về đất đai, thuế. Về phía các tổ chức tín dụng, cần xây dựng các sản phẩm vay vốn trồng rừng sản xuất đặc thù, với thời hạn vay dài hơn (10-15 năm) và ân hạn trả gốc trong những năm đầu kiến thiết cơ bản. Điều này sẽ giúp người dân vượt qua giai đoạn khó khăn ban đầu khi rừng chưa cho thu hoạch.

05/10/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Trên thế giới Trồng rừng là 1 môn khoa học quan trọng trong công tác xây dựng rừng, nên các nhà khoa học ở các nước trên thế giới đã quan tâm nghiên cứu từ rất sớm, có thể điểm qua 1 số công trình nghiên cứu điển hình thuộc các chuyên đề sau đây. Những nghiên cứu về lập địa Tập hợp kết quả nghiên cứu ở các nước vùng nhiệt đới, tổ chức Nông lương Quốc tế (FAO, 1984) đã chỉ ra rằng khả năng sinh trưởng của rừng trồng, đặc biệt là rừng trồng nguyên liệu công nghiệp phụ thuộc rất rõ vào bốn nhân tố chủ yếu liên quan đến điều kiện lập địa là: 1) khí hậu, 2) địa hình, 3) loại đất, 4) hiện trạng thực bì. Điển hình là các công trình nghiên cứu của Julian Evans (1974 và 1992), Pandey (1983), Golcalves J.M và cộng sự (2004).

Khi nghiên cứu đặc điểm đất ở Châu Phi, Julian Evans (1974) cho rằng đất đai ở vùng nhiệt đới rất khác nhau về độ dầy tầng đất, cấu trúc vật lý đất, hàm lượng các chất dinh dưỡng khoáng, phản ứng của đất (độ pH) và nồng độ muối. Vì thế, khả năng sinh trưởng của rừng trồng trên các loại đất ấy cũng khác nhau [59]. Khi đánh giá khả năng sinh trưởng của loài Thông P. patula ở Swaziland, Evans, J (1974) đã chứng minh khả năng sinh trưởng về chiều cao của loài cây này có quan hệ khá chặt (R=0.81) với các yếu tố địa hình và đất đai [59].

Khảo sát rừng trồng ở các điều kiện lập địa khác nhau, Pandey (1983) đã chỉ cho thấy Bạch đàn E. camaldulensis trồng ở vùng nhiệt đới khô với chu kỳ kinh doanh từ 10-20 năm thường chỉ đạt từ 5-10m3/ha/năm, nhưng ở vùng nhiệt đới ẩm thì có thể đạt tới 30m3/ha/năm [69]. Rõ ràng điều kiện lập địa khác nhau thì năng suất rừng trồng cũng khác nhau rõ rệt. 4 Khi nghiên cứu về sản lượng rừng trồng Bạch đàn ở Brazil, Golcalves J.M và cộng sự (2004) cho rằng năng suất rừng trồng là sự “kết hôn” thích hợp giữa kiểu gen với điều kiện lập địa và kỹ thuật canh tác [62].

Ngoài ra, tác giả còn chỉ cho thấy giới hạn của sản lượng rừng có liên quan đến các yếu tố môi trường theo thứ tự mức độ quan trọng sau đây: nước > dinh dưỡng > độ sâu tầng đất. Thông qua một số công trình nghiên cứu trên cho thấy việc xác định điều kiện lập địa phù hợp với từng loài cây trồng là rất cần thiết, đó là một trong những yếu tố quan trọng quyết định năng suất và chất lượng rừng trồng. Những nghiên cứu về giống Giống là một vấn đề quan trọng bậc nhất để nâng cao năng suất rừng trồng nên nhiều nước trên thế giới đã đi trước chúng ta nhiều năm về vấn đề cải thiện giống cây rừng và đã đạt được những thành tựu đáng kể. Điển hình như ở Công Gô, bằng phương pháp lai nhân tạo đã tạo ra giống Bạch đàn lai (Eucalyptus hybrids) có năng suất đạt 35m3/ha/năm ở giai đoạn tuổi 7.

Bằng con đường chọn lọc nhân tạo, Brazil đã chọn được giống Eucalyptus grandis đạt tới 55m3/ha/năm sau 7 năm trồng, ở Swaziland cũng đã chọn đựơc giống Pinus patala sau 15 năm tuổi đạt 19m3/ha/năm [69]. Ở Zimbabwe cũng đã chọn được giống E. grandis đạt từ 35-40m3/ha/năm, giống E. urophylla đạt trung bình tới 55m3/ha/năm, có nơi lên đến 70m3/ha/năm [57].

Những nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ Mật độ trồng rừng ban đầu là một trong những biện pháp kỹ thuật lâm sinh quan trọng có ảnh hưởng khá rõ đến năng suất rừng trồng. Vấn đề này đã có rất nhiều công trình nghiên cứu với nhiều loài cây khác nhau trên các dạng lập địa khác nhau, điển hình như: Công trình nghiên cứu của Evans, J.(1992), tác giả đã bố trí 4 công thức mật độ trồng khác nhau ( 2985 ;1680 ;1075 và 750 cây/ha) cho Bạch đàn E.deglupta ở Papua New Guinea, số liệu thu được 5 sau 5 năm trồng cho thấy đường kính bình quân của các công thức thí nghiệm tăng theo chiều giảm của mật độ, nhưng tổng tiết diện ngang (G) lại tăng theo chiều tăng của mật độ [60]. Có nghĩa là rừng trồng ở mật độ thấp tuy tăng trưởng về đường kính cao hơn nhưng trữ lượng gỗ cây đứng của rừng vẫn nhỏ hơn những công thức trồng mật độ cao. Tại Malaysia năm (1995) người ta tiến hành xây dựng rừng hỗn loài nhiều tầng trên 3 đối tượng: rừng tự nhiên, rừng Keo tai tượng và rừng Tếch với 23 loài bản địa có giá trị, trồng theo băng có chiều rộng khác nhau (10m, 20m, 30m, 40m) và phương thức hỗn giao khác nhau.

Kết quả cho thấy khả năng sinh trưởng chiều cao tốt ở băng 10m và 40m. Như vậy, mật độ trồng ảnh hưởng khá rõ đến năng suất, chất lượng sản phẩm và chu kỳ kinh doanh, vì thế cần phải căn cứ vào mục tiêu kinh doanh cụ thể để xác định mật độ trồng cho thích hợp. Nghiên cứu ảnh hưởng của bón phân đến sinh trưởng và năng suất rừng trồng Bón phân cho cây trồng là một trong những biện pháp kỹ thuật thâm canh nhằm nâng cao năng suất chất lượng rừng trồng đã được nhiều nhà khoa học trên thế giới quan tâm, điển hình như công trình nghiên cứu của Mello (1976) ở Brazil cho thấy Bạch đàn (Eucalyptus) sinh trưởng khá tốt ở công thức không bón phân, nếu bón NPK thì năng suất rừng trồng có thể tăng lên trên 50% [67]. Trong một công trình nghiên cứu khác ở South Africa của Schonau (1985) về vấn đề phân bón cho bạch đàn Eucalyptus grandis đã cho thấy công thức bón 150g NPK/gốc với tỷ lệ N :P :K= 3 :2 :1 có thể nâng chiều cao trung bình của rừng trồng lên gấp 2 lần sau năm thứ nhất [70].

Đối với Thông P. caribeae ở Colombia, Bolstad và cộng sự (1988) cũng đã tìm thấy một vài loại phân có phản ứng tích cực mang lại hiệu quả rõ rệt cho rừng trồng như Potassium, Phosphate, Boron và Magnesium [56]. Khi 6 nghiên cứu phân bón cho rừng Thông P.caribeae ở CuBa, Herrero và cộng sự (1988) cũng cho thấy bón Phosphate đã nâng sản lượng từ 56m 3 lên 69m3/ha sau 13 năm trồng [63]. Nghiên cứu về chính sách và thị trường Hiệu quả của công tác trồng rừng sản xuất trong đó hiệu quả về kinh tế là chủ yếu.

Sản phẩm rừng trồng phải có được thị trường, phục vụ được cả mục tiêu trước mắt cũng như lâu dài. Đồng thời phương thức canh tác phải phù hợp với kiến thức bản địa và dễ áp dụng với người dân. Theo nghiên cứu của Thomas Enters và Patrick B. Nhận biết được 2 vấn đề then chốt, đóng vai trò quyết định đối với quá trình sản xuất nên tại các nước phát triển như Mỹ, Canada, Nhật.

nghiên cứu kinh tế lâm nghiệp ở cấp quốc gia hiện nay được tập trung vào thị trường và khả năng cạnh tranh của sản phẩm. Trên quan điểm “Thị trường là chìa khoá của quá trình sản xuất”, các nhà kinh tế lâm nghiệp phân tích rằng, chính thị trường sẽ trả lời câu hỏi sẽ phải sản xuất cái gì và sản xuất cho ai? Khi thị trường có nhu cầu và lợi ích của người sản xuất được đảm bảo thì sẽ thúc đẩy được sản xuất phát triển tạo ra sản phẩm hàng hoá. Dựa trên việc phân tích và đánh giá tình hình thực tế trong những năm qua Liu Jinlong (2004) đã đưa ra một số công cụ chủ đạo khuyết khích tư nhân phát triển trồng rừng như: - Rừng và đất rừng cần được tư nhân hoá. - Ký hợp đồng hoặc cho tư nhân thuê đất lâm nghiệp của nhà nước.

- Giảm thuế đánh vào các lâm sản. - Đầu tư tái chính cho tư nhân trồng rừng. - Phát triển quan hệ hợp tác giữa các công ty với người dân để phát triển trồng rừng [65]. 7 Những công cụ mà tác giả đề xuất tương đối toàn diện từ khâu quản lý chung về vấn đề đất đai, thuế và cả mối quan hệ giữa doanh nghiệp và người dân.

Có thể nói đây không chỉ là những đòn bẩy thúc đẩy tư nhân tham gia trồng rừng mà còn gợi ý những định hướng quan trọng cho phát triển rừng trồng sản xuất tại các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam. Các tác giả trên thế giới cũng quan tâm nhiều đến các hình thức khuyến khích trồng rừng. Điển hình có những nghiên cứu của Narong Mahanop (2004) ở Thailand, Ashadi và Nina Mindawati (2004) ở Indonesia. Qua những nghiên cứu của mình, các tác giả cho biết hiện nay 3 vấn đề được xem là quan trọng, khuyến khích người dân tham gia trồng rừng tại các quốc gia Đông Nam Á chính là: - Quy định rõ ràng về quyền sử dụng đất.

- Quy định rõ đối tượng hưởng lợi từ trồng rừng. - Nâng cao hiểu biết và nắm bắt kỹ thuật của người dân [55], [68]. Đây cũng là những vấn đề mà các nước trong khu vực, trong đó có Việt Nam đã và đang quan tâm giải quyết để thu hút nhiều thành phần tham gia trồng rừng, đặc biệt là khơi thông nguồn vốn tư nhân, vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài cho trồng rừng. Vì vậy, quan điểm chung để phát triển rừng trồng có hiệu quả kinh tế cao là trồng rừng cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và xuất khẩu với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế và đa dạng hoá các hình thức sở hữu trong mỗi loại hình tổ chức kinh doanh sản xuất rừng trồng.

Nghiên cứu về xói mòn đất Giữa thế kỷ XVIII, nhiều khu rừng trên thế giới đã bị chặt bỏ, thay thế vào là những diện tích canh tác nông nghiệp. Hiện tượng xói mòn do canh tác liên tục đã dẫn đến làm suy giảm độ phì và năng xuất cây trồng. Thực tiễn đã thúc đẩy những nghiên cứu nhằm xây dựng các biện pháp chống xói mòn, bảo vệ đất. 8 Xói mòn đất đã được các nhà khoa học thế kỉ XX nghiên cứu thực nghiệm và khái quát hóa thành công thức toán học như: Phương trình xói mòn mặt đất của Horton (1945), phương trình mặt đất của Musgave (1947), phương trình phá hủy kết cấu của hạt mưa (bằng các nghiên cứu trong phòng thí nghiệm) của Elison (1945), phương trình mặt đất phổ dụng của Wischmeier và Smith (1958,1978),.

Trong đó có kết quả của nghiên cứu xói mòn và khả năng bảo vệ đất đã xây dựng được phương trình mất đất phổ dụng (USLE) ở trường đại học tổng hợp Pardin (Mỹ) vào cuối năm 1950 [17]. Đây là nghiên cứu quan trọng và sau này phương trình mất đất phổ dụng (USLE) được Wischmeier.H (1997) cải tiến (RUSLE) trên cơ sở gộp hệ số độ dốc và hệ số chiều dài sườn dốc thành hệ số địa hình: A= R.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ