Luận văn: Hiện trạng và giải pháp phát triển rừng gỗ lớn tại Vân Canh, Bình Định

Luận văn phân tích hiện trạng, đề xuất giải pháp phát triển rừng trồng gỗ lớn tại huyện Vân Canh, Bình Định. Cung cấp luận cứ khoa học cho quy hoạch.

Chuyên ngành

Lâm nghiệp

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2018

83
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Khám phá tiềm năng phát triển rừng trồng gỗ lớn tại Vân Canh

Huyện Vân Canh, tỉnh Bình Định, sở hữu tiềm năng to lớn để trở thành một trung tâm lâm nghiệp bền vững. Với tổng diện tích đất lâm nghiệp lên tới 75.924,12 ha, chiếm 94,40% diện tích tự nhiên, đây là nguồn tài nguyên quý giá cho kinh tế lâm nghiệp Vân Canh. Tuy nhiên, thực tế hiện nay cho thấy ngành lâm nghiệp của huyện vẫn chủ yếu tập trung vào mô hình trồng rừng gỗ nhỏ, chu kỳ ngắn (5-7 năm) để cung cấp nguyên liệu cho sản xuất dăm gỗ. Phương thức này mang lại giá trị kinh tế thấp, chưa tương xứng với tiềm năng đất đai và gây ra nhiều hệ lụy về môi trường. Việc chuyển đổi sang mô hình phát triển rừng trồng gỗ lớn tại Vân Canh không chỉ là một định hướng chiến lược mà còn là một giải pháp cấp thiết. Mô hình này hứa hẹn nâng cao thu nhập cho người trồng rừng, tạo ra nguồn cung gỗ chất lượng cao cho ngành công nghiệp chế biến, đồng thời góp phần vào phát triển lâm nghiệp bền vững. Bài viết này sẽ phân tích sâu về hiện trạng, chỉ ra những thách thức và đề xuất các giải pháp đồng bộ để hiện thực hóa mục tiêu này, dựa trên cơ sở khoa học và thực tiễn tại địa phương.

1.1. Tổng quan điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội Vân Canh

Vân Canh có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho lâm nghiệp. Khí hậu nhiệt đới ẩm, nhiệt độ trung bình năm 25,6°C và lượng mưa dồi dào là điều kiện lý tưởng cho các loài cây sinh trưởng nhanh như giống cây keo lai, bạch đàn. Địa hình đồi núi chiếm trên 85% diện tích, với tầng đất dày và độ phì khá, phù hợp cho việc phát triển các vùng nguyên liệu tập trung. Về kinh tế - xã hội, huyện có hệ thống giao thông kết nối thuận lợi với Quốc lộ 19C và gần Cảng Quy Nhơn, tạo điều kiện cho việc vận chuyển và tiêu thụ lâm sản. Tuy nhiên, đời sống người dân, đặc biệt là các hộ đồng bào dân tộc thiểu số, còn nhiều khó khăn, trình độ dân trí chưa đồng đều và tập quán canh tác quảng canh vẫn còn phổ biến. Đây là những yếu tố cần được xem xét kỹ lưỡng khi triển khai các giải pháp phát triển rừng gỗ lớn.

1.2. Vai trò của Đề án phát triển lâm nghiệp huyện Vân Canh

Việc phát triển rừng trồng gỗ lớn là một phần trọng tâm trong đề án phát triển lâm nghiệp huyện Vân Canh cũng như định hướng tái cơ cấu ngành nông nghiệp của tỉnh Bình Định. Mục tiêu của đề án là chuyển đổi dần từ nền lâm nghiệp khai thác gỗ nhỏ, giá trị thấp sang một nền lâm nghiệp hiện đại, bền vững và có giá trị gia tăng cao. Đề án tập trung vào việc quy hoạch vùng trồng, áp dụng khoa học công nghệ, xây dựng các chính sách hỗ trợ trồng rừng gỗ lớn và thúc đẩy liên kết sản xuất và tiêu thụ gỗ. Việc thực hiện thành công đề án không chỉ mang lại lợi ích kinh tế trực tiếp cho người dân và doanh nghiệp mà còn góp phần bảo vệ môi trường, giảm xói mòn đất, tăng khả năng hấp thụ carbon và ứng phó với biến đổi khí hậu. Đây là bước đi chiến lược để Vân Canh khẳng định vị thế của mình trong chuỗi giá trị ngành gỗ Việt Nam.

II. Thách thức trong việc chuyển đổi sang trồng rừng gỗ lớn

Mặc dù tiềm năng lớn, quá trình phát triển rừng trồng gỗ lớn tại Vân Canh đang đối mặt với nhiều thách thức cố hữu. Trở ngại lớn nhất đến từ thực trạng sản xuất hiện tại. Hơn 85% sản lượng gỗ rừng trồng của huyện được khai thác non để làm dăm gỗ xuất khẩu. Theo tài liệu nghiên cứu, mô hình này tạo ra một sự lãng phí tài nguyên nghiêm trọng: giá trị một mét khối gỗ nguyên liệu làm dăm chỉ bằng 1/5 đến 1/6 so với gỗ nhập khẩu để chế biến tinh chế. Người dân quen với chu kỳ thu hoạch ngắn để có thu nhập nhanh, trong khi trồng gỗ lớn đòi hỏi thời gian đầu tư kéo dài (trên 10 năm), gây áp lực về vốn và chi phí sinh hoạt. Thêm vào đó, rủi ro từ thiên tai như bão (cơn bão năm 2017 gây thiệt hại nặng nề) và cháy rừng là rất lớn, trong khi chính sách bảo hiểm cho rừng trồng chưa phổ biến. Việc thiếu liên kết sản xuất và tiêu thụ gỗ giữa người trồng rừng và các doanh nghiệp chế biến gỗ tại Bình Định cũng dẫn đến tình trạng giá cả bấp bênh, bị ép giá, làm giảm động lực chuyển đổi của người dân.

2.1. Hạn chế về vốn đầu tư và chính sách hỗ trợ trồng rừng

Trồng rừng gỗ lớn đòi hỏi suất đầu tư cao hơn đáng kể so với gỗ nhỏ, đặc biệt là chi phí cho giống chất lượng, phân bón và công chăm sóc trong thời gian dài. Hiện nay, các chính sách hỗ trợ trồng rừng gỗ lớn của nhà nước tuy đã có nhưng mức hỗ trợ còn thấp (khoảng 3-4,5 triệu đồng/ha), chỉ chiếm một phần nhỏ trong tổng chi phí. Việc tiếp cận nguồn vốn vay ưu đãi từ ngân hàng cũng gặp nhiều khó khăn do chu kỳ vay dài và tài sản đảm bảo. Nhiều hộ gia đình, đặc biệt là ở vùng sâu vùng xa, không đủ điều kiện để vay vốn, buộc họ phải tiếp tục mô hình trồng rừng quảng canh, chu kỳ ngắn để đảm bảo cuộc sống. Đây là nút thắt lớn nhất cần được tháo gỡ để thúc đẩy quá trình chuyển hóa rừng gỗ nhỏ sang gỗ lớn.

2.2. Rủi ro thị trường và vấn đề tìm đầu ra cho gỗ lớn

Mặc dù nhu cầu đầu ra cho gỗ lớn của các nhà máy chế biến là rất lớn (nguồn cung trong tỉnh chỉ đáp ứng 13% nhu cầu), nhưng thị trường vẫn tồn tại nhiều bất ổn. Người dân trồng rừng nhỏ lẻ thường thiếu thông tin thị trường và không có hợp đồng bao tiêu sản phẩm dài hạn. Họ lo ngại rằng sau một chu kỳ 10-15 năm, giá gỗ có thể biến động hoặc không có đơn vị thu mua ổn định. Tình trạng tranh mua, tranh bán và ép giá của thương lái vẫn còn phổ biến. Việc thiếu một chuỗi giá trị gỗ rừng trồng hoàn chỉnh, từ khâu trồng, chăm sóc, khai thác đến chế biến và tiêu thụ, làm giảm hiệu quả kinh tế và tăng rủi ro cho người đầu tư.

III. Phương pháp áp dụng kỹ thuật thâm canh rừng trồng hiệu quả

Để thành công trong việc phát triển rừng trồng gỗ lớn tại Vân Canh, việc áp dụng đồng bộ các giải pháp kỹ thuật là yếu tố then chốt. Trọng tâm của phương pháp này là kỹ thuật thâm canh rừng trồng, một hệ thống các biện pháp tác động từ khâu chọn giống đến khi khai thác nhằm tối ưu hóa năng suất và chất lượng gỗ. Thay vì trồng quảng canh, thâm canh đòi hỏi sự đầu tư bài bản về giống, làm đất, bón phân, tỉa cành và tỉa thưa. Mục tiêu là tạo ra những cây gỗ có đường kính lớn, thân thẳng, ít mắt sâu và chất lượng đồng đều, đáp ứng tiêu chuẩn của ngành công nghiệp chế biến. Nghiên cứu cho thấy, các mô hình trồng rừng gỗ lớn hiệu quả có thể cho năng suất trữ lượng đạt từ 300-350 m³/ha sau 12-15 năm, mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn 2,8 lần so với trồng hai chu kỳ gỗ nhỏ trên cùng diện tích. Việc phổ biến và hướng dẫn người dân áp dụng các quy trình kỹ thuật này là nhiệm vụ cấp bách để thay đổi tập quán sản xuất cũ.

3.1. Bí quyết chọn giống cây keo lai bạch đàn năng suất cao

Giống là yếu tố quyết định hàng đầu đến sự thành công của rừng trồng gỗ lớn. Cần ưu tiên sử dụng các dòng giống cây keo lai, bạch đàn đã được công nhận, có nguồn gốc rõ ràng, được sản xuất bằng công nghệ nuôi cấy mô hoặc giâm hom từ các vườn giống đầu dòng. Các giống này có ưu điểm vượt trội về tốc độ sinh trưởng, khả năng chống chịu sâu bệnh, và chất lượng gỗ tốt. Người trồng rừng cần tuyệt đối tránh sử dụng các loại cây giống trôi nổi, không rõ nguồn gốc vì chúng thường có tuổi sinh lý già, sinh trưởng chậm và nhanh ra hoa, không thể phát triển thành gỗ lớn. Các đơn vị như Công ty TNHH Lâm nghiệp Quy Nhơn đã làm chủ công nghệ nuôi cấy mô, đây là nguồn cung cấp giống chất lượng cao đáng tin cậy cho người dân và doanh nghiệp tại Vân Canh.

3.2. Quy trình chăm sóc tỉa thưa để tối ưu chất lượng gỗ

Sau khi trồng, việc chăm sóc và nuôi dưỡng rừng đóng vai trò quan trọng. Mật độ trồng ban đầu hợp lý cho gỗ lớn thường là 1.600 - 2.000 cây/ha. Trong 3-4 năm đầu, cần bón phân định kỳ và phát dọn thực bì để cây sinh trưởng tốt. Kỹ thuật tỉa cành cần được thực hiện sớm để tạo thân cây thẳng, không có mắt gỗ. Quan trọng nhất là kỹ thuật tỉa thưa. Việc tỉa thưa được tiến hành 1-2 lần trong chu kỳ kinh doanh, loại bỏ những cây sinh trưởng kém, sâu bệnh để tập trung dinh dưỡng cho các cây mục tiêu phát triển đường kính. Đây là biện pháp kỹ thuật bắt buộc trong quy trình chuyển hóa rừng gỗ nhỏ sang gỗ lớn, giúp lâm phần từ mật độ cao chuyển sang mật độ thấp hơn, tạo không gian cho các cây còn lại phát triển thành gỗ lớn.

IV. Top giải pháp chính sách phát triển rừng gỗ lớn bền vững

Để thúc đẩy phát triển rừng trồng gỗ lớn tại Vân Canh một cách toàn diện, không thể thiếu vai trò kiến tạo và hỗ trợ từ chính sách. Các giải pháp chính sách cần được xây dựng đồng bộ, tập trung vào việc giải quyết các nút thắt về vốn, đất đai, thị trường và tạo động lực cho cả người dân và doanh nghiệp. Một trong những giải pháp hàng đầu là xây dựng gói tín dụng ưu đãi đặc thù cho trồng rừng gỗ lớn, với lãi suất thấp và chu kỳ vay dài hạn, phù hợp với đặc điểm sản xuất lâm nghiệp. Bên cạnh đó, cần hoàn thiện công tác giao đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp để người dân yên tâm đầu tư dài hạn. Chính quyền địa phương cần đóng vai trò cầu nối, thúc đẩy liên kết sản xuất và tiêu thụ gỗ theo mô hình chuỗi giá trị, đảm bảo đầu ra cho gỗ lớn một cách ổn định và minh bạch. Đây là những nền tảng chính sách quan trọng để hiện thực hóa mục tiêu phát triển lâm nghiệp bền vững.

4.1. Xây dựng chính sách hỗ trợ trồng rừng gỗ lớn thực tiễn

Cần rà soát và nâng mức hỗ trợ trong các chính sách hỗ trợ trồng rừng gỗ lớn hiện hành để hấp dẫn hơn. Ngoài hỗ trợ trực tiếp bằng tiền, chính sách có thể đa dạng hóa dưới các hình thức khác như: hỗ trợ 50-70% chi phí cây giống chất lượng cao, hỗ trợ chi phí để đạt chứng chỉ rừng FSC, hoặc xây dựng chính sách bảo hiểm rủi ro thiên tai cho rừng trồng. Đặc biệt, cần có cơ chế ưu tiên tiếp cận các nguồn vốn này cho các hợp tác xã hoặc nhóm hộ liên kết trồng rừng gỗ lớn, khuyến khích sản xuất quy mô lớn và tập trung. Chính sách phải được thiết kế đơn giản, dễ tiếp cận để người dân, đặc biệt là các hộ ở vùng khó khăn, có thể thực sự được hưởng lợi.

4.2. Thúc đẩy liên kết chuỗi giá trị gỗ rừng trồng hiệu quả

Mô hình liên kết 4 nhà (Nhà nước - Nhà khoa học - Doanh nghiệp - Nhà nông) là chìa khóa để tạo nên một chuỗi giá trị gỗ rừng trồng bền vững. Nhà nước tạo hành lang pháp lý và chính sách. Các viện nghiên cứu cung cấp giống và quy trình kỹ thuật. Các doanh nghiệp chế biến gỗ tại Bình Định ký kết hợp đồng bao tiêu sản phẩm dài hạn với người dân, cam kết giá thu mua và có thể hỗ trợ một phần chi phí đầu tư. Người dân tuân thủ quy trình kỹ thuật để tạo ra sản phẩm đáp ứng tiêu chuẩn. Mô hình này giúp giải quyết bài toán thị trường, nâng cao thu nhập cho người trồng rừng và đảm bảo nguồn cung nguyên liệu ổn định, chất lượng cao cho doanh nghiệp.

4.3. Phát triển tín chỉ carbon từ rừng trồng và chứng chỉ FSC

Đây là hướng đi mới, mang lại lợi ích kép về kinh tế và môi trường. Việc trồng và duy trì rừng gỗ lớn giúp hấp thụ một lượng lớn CO2, tạo ra tiềm năng bán tín chỉ carbon từ rừng trồng. Đây có thể trở thành một nguồn thu nhập bổ sung quan trọng cho người dân trong thời gian chờ khai thác gỗ. Đồng thời, việc đạt được chứng chỉ rừng FSC (Forest Stewardship Council) là tấm vé thông hành để sản phẩm gỗ của Vân Canh có thể tiếp cận các thị trường xuất khẩu khó tính như Mỹ, EU, Nhật Bản với giá bán cao hơn. Nhà nước cần có chính sách hỗ trợ các chủ rừng chi phí tư vấn và đánh giá để nhận được chứng chỉ quan trọng này, góp phần xây dựng thương hiệu gỗ Vân Canh trên trường quốc tế.

04/10/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu 1. Phát triển trồng rừng gỗ lớn trên thế giới Có thể nói cho đến nay cơ sở khoa học cho việc phát triển rừng trồng ở các nước phát triển đã được đi vào hoàn thiện và đi vào phục vụ sản xuất lâm nghiệp trong nhiều năm qua.

- Về vấn đề giống: Thành công trong công tác cải tiến năng suất và chất lượng đầu tiên phải kể đến khâu chọn và tạo giống. Đây là một lĩnh vực mang tính đột phá và đã thu được những thành tựu rất lớn trong thời gian qua. Các chương trình chọn giống đã bắt đầu ở nhiều nước và tập trung cho nhiều loài cây mọc nhanh khác nhau, trong đó có Bạch đàn. Braxin đã chọn cây trội và xây dựng vườn giống cây con tự thụ phấn tự do cho các loài Eucalyptus maculata ngay từ những năm 1952; Mỹ bắt đầu với loài E.

Từ năm 1970 đến 1973 Úc đã chọn được 160 cây trội cho loài E. regnans và 170 cây trội có thân hình thẳng đẹp và tỉa cành tự nhiên tốt ở ở loài E. Tương tự vậy, 150 cây trội đã được chọn ở rừng tự nhiên cho loài E. diversicolor ở Úc và loài E.

deglupta ở Papua New Guina. Tác giả Appanah và Weiland (1993) [17] đã xuất bản cuốn sách “Planting quality timber trees in Peninsular Malaysia-A review”. Trong cuốn sách này, tác giã đã tổng quan những kinh nghiêm trồng rừng gỗ lớn ở bán đảo Malaysia, tiến trình lịch sử và cuộc tranh luận lớn về quản lý rừng tự nhiên và rừng trồng, bao gồm cả những sai lầm về cơn sốt cây nhập nội mọc nhanh; các tác giả đã thảo luận về các nguyên tắc sử dụng các loài cây tiềm năng cho trồng rừng; trong cuốn sách này, hơn 40 loài cây đã được hướng dẫn kỹ thuật trồng rừng lấy gỗ. Mayhew và Newton (1998) [18] trong cuốn sách “The silviculture of Mahogany” đã trình bày các tiến bộ kỹ thuật lâm sinh trong kinh doanh cây gỗ thương mại nổi tiếng được gọi là Mahogany (Swietenia macrophylla).

Những khó khăn trong việc trồng rừng gỗ lớn mọc nhanh, đặc biệt đối với cây bản địa đã được các tác giả nêu lên từ rất sớm. Trong đó những khó khăn chủ yếu thường là: việc lựa chọn loài cây thích hợp cho vùng lập địa, nguồn giống, kỹ thuật trồng, kỹ thuật lâm sinh. Nhờ những công trình nghiên cứu chọn lọc và tạo giống mới tới nay ở nhiều nước đã có những giống cây trồng năng suất rất cao, gấp 2-3 lần trước đây như ở Braxin đã tạo dược những khu rừng có năng suất cao 70-80 m3/ha/năm, tại Công Gô năng suất rừng cũng đạt 40-50 m 3/ha/năm. Ở Zimbabwe cũng đã chọn được giống E.

grandis đạt từ 35-40m 3/ha/năm, giống E. urophylla đạt trung bình tới 55m 3/ha/năm, có nơi lên tới 70m3/ha/năm (Campinhos và Ikemori, 1988). PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 5 - Về vấn đề lập địa: qua tập hợp kết quả nghiên nghiên cứu ở các nước vùng nhiệt đới, Tổ chức Nông- lương Quốc tế (FAO, 1984) đã chỉ ra rằng khả năng sinh trưởng của rừng trồng, đặc biệt là rừng trồng nguyên liệu công nghiệp phụ thuộc rất rõ vào 4 nhân tố chủ yếu liên quan đến điều kiện lập địa là: Khí hậu, địa hình, loại đất và hiện trạng thực bì. Điển hình là các công trình nghiên cứu của Laurie (1974), Julian Evans (1974 và 1992), Pandey (1983), Golcalves và cộng sự (2004) [19].

Khảo sát rừng trồng ở các điều kiện lập địa khác nhau, Pandey (1983) đã chỉ cho thấy bạch đàn Eucalyptus camaldulensis trồng ở vùng nhiệt đới khô với chu kỳ kinh doanh từ 10-20 năm thường chỉ đạt từ 5-10m3/ha/năm, nhưng ở vùng nhiệt đới ẩm thì có thể đạt tới 30m3/ha/năm. Rõ ràng điều kiện lập địa khác nhau thì năng suất rừng trồng cũng khác nhau khá rõ rệt. Tại Úc, những nghiên cứu đầu tiên về rừng trồng được thiết lập trên các khu rừng trồng các loài thông (Pinus radiata, Pinus elliottii) tại miền nam nước Úc, kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng phương thức làm đất chuẩn bị trồng rừng theo kiểu khai thác trắng, dọn sạch cỏ rác đã là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến phá vỡ kết cấu đất và là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự xâm thực nhanh chóng của các loài cỏ dại ngay sau đó, làm suy giảm dinh dưỡng trong đất điều này làm cho sinh trưởng của rừng trồng kém đi và làm suy giảm sản lượng rừng. Các thí nghiệm cũng đã chỉ ra rằng việc bảo vệ lớp đất mặt cùng với việc làm tăng độ phì đất, kiểm soát hợp lý sự phát triển của cỏ dại đã cải thiện đáng kể năng suất và đưa sản lượng rừng trồng tăng đáng kể ở luân kỳ 2.

Đây là tiền đề cho các biện pháp kỹ thuật lâm sinh tổng hợp cho việc tăng năng suất rừng trồng công nghiệp ngày nay. Thông qua một số công trình nghiên cứu trên cho thấy việc xác định điều kiện lập địa phù hợp với từng loài cây trồng là rất cần thiết, đó là một trong những yếu tố quan trọng quyết định năng suất và chất lượng của rừng trồng. - Về các biện pháp kỹ thuật lâm sinh: Mật độ trồng, kỹ thuật chăm sóc như bón phân, cắt tỉa cành, tỉa thưa chăm sóc cây có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của rừng trồng. + Mật độ: Việc xác định mật độ tối ưu cho rừng trồng là nhiệm vụ quan trọng của người trồng rừng.

Nhiều tác giả đã xác định mật độ tối ưu bằng tổng diện tích tán trên mặt bằng diện tích. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng, mật độ và khoảng cách trồng phụ thuộc vào các nhân tố: Quan điểm năng suất, đặc điểm sinh trưởng của loài/giống, mục đích sản xuất, độ bền vững của lâm phần, yêu cầu của công nghệ, khả năng tận thu và sử dụng gỗ nhỏ, điều kiện sản xuất (kinh tế, lập địa. (1992), [20] đã bố trí 4 công thức mật độ trồng rừng khác nhau (2985 cây/ha, 1680 cây/ha, 1075 cây/ha, 750cây/ha) cho Bạch đàn (E. deglupta) ở Papua New Guinea, sau 5 năm trồng cho thấy đường kính bình quân của các công thức thí nghiệm tăng theo chiều PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 6 giảm của mật độ, nhưng tổng tiết diện ngang (G) của lâm phần lại tăng theo chiều tăng của mật độ.

Chứng tỏ tổng trữ lượng cây gỗ đứng của rừng trồng mật độ thấp vẫn nhỏ hơn các công thức mật độ cao. Điều này đã chỉ ra rằng, nếu mật độ quá cao, trữ lượng cây đứng sẽ cao nhưng một số cây cá thể sẽ thiếu không gian sinh trưởng, chúng phải cạnh tranh với các cây xung quanh và làm giảm sinh trưởng dẫn đến năng suất sinh khối và chất lượng của lâm phần cũng giảm theo. Ngược lại, nếu mật độ quá thấp, các cây cá thể sinh trưởng cao nhưng do số lượng cây trong lâm phần thấp nên năng suất sinh khối trên đơn vị diện tích giảm, ảnh hưởng lớn đến mục đích sản xuất chính. + Phân bón: Là một trong những biện pháp kỹ thuật nâng cao năng xuất rừng trồng, việc bón phân cho rừng trồng đã được quan tâm từ khá sớm và nhanh chón phát triển, các nhà nghiên cứu đã tiến hành nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này.

Điển hình như nghiên cứu của Schonau ở Nam Phi năm 1985 về công thức bón phân cho Bạch đàn (E. grandis) theo công thức 150g NPK /gốc theo tỷ lệ N:P:K = 3:2:1, rút ra kết luận có thể nâng cao chiều cao trung bình của rừng trồng lên 2 lần sau năm thứ nhất. Bón phân Phosphate cho Thông caribe ở Cu Ba, Herrero, Et. (1988) [21] thu được kết quả là nâng cao sản lượng rừng sau 13 năm trồng từ 56 m 3/ha lên 69 m3/ha,… Những kết quả nghiên cứu trên cho thấy biện pháp bón phân, thời gian bón phân, loại phân bón ảnh hưởng rất rõ rệt đến sinh trưởng, sản lượng và chật lượng của rừng trồng.

+ Tỉa thưa chăm sóc rừng: tỉa cành, tỉa thưa cho lâm phần rừng cũng ảnh hưởng rất lớn đến năng suất sinh khối cũng như hiệu quả kinh tế cho rừng trồng. Tỉa thưa là một trong những biện pháp kỹ thuật quan trọng có tác động rõ rệt đến cấu trúc, sinh trưởng, phát triển, sản lượng, chất lượng và cơ cấu sản phẩm rừng trồng. Phát triển trồng rừng gỗ lớn trong nước Cho đến nay các nghiên cứu khoa học phục vụ cho việc phát triển rừng trồng ở nước ta đã có những bước phát triển lớn, đi vào hoàn thiện và đi vào phục vụ sản xuất lâm nghiệp: - Trong lĩnh vực lai tạo và chọn giống, Hà Huy Thịnh và cs. (2010) [9] đã thực hiện đề tài “Nghiên cứu cải thiện giống nhằm tăng năng suất, chất lượng cho một số loài cây trồng rừng chủ lực”.

Kết quả đã được công nhận 19 giống quốc gia và tiến bộ kỹ thuật cho các loài Keo lá tràm (A. auriculiformis), Bạch đàn camal (E. camaldulensis) có thể đạt năng suất từ 15-30 m3/ha/năm, vượt 20-150% so với giống đại trà. PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 7 Nguyễn Hoàng Nghĩa (2010) [7] với đề tài “Nghiên cứu chọn các dòng keo và bạch đàn chịu bệnh có năng suất cao phục vụ trồng rừng kinh tế” đã được công nhận 20 dòng là giống tiến bộ lỹ thuật trong đó Bạch đàn 9 dòng, Keo lai 3 dòng, Keo tai tượng 1 dòng và Keo lá tràm 7 dòng.

Nguyễn Việt Cường (2010) [4] thực hiện đề tài “Nghiên cứu lai tạo giống một số loài Bạch đàn, Tràm, Thông và Keo” với kết quả đã được công nhận 13 giống Bạch đàn lai (3 giống quốc gia và 10 giống tiến bộ kỹ thuật) và 5 giống của 5 dòng Keo lai (2 giống quốc gia và 3 giống tiến bộ kỹ thuật). Nguyễn Thị Hải Hồng (2010) [6] nghiên cứu chọn, nhân giống và kỹ thuật gây trồng Dầu rái và Sao đen. Lê Minh Cường (2010) [2] thực hiện đề tài “Nghiên cứu chọn giống và kỹ thuật gây trồng rừng thâm canh cây Sồi phảng và Gáo trắng cung cấp gỗ lớn ở một số vùng trọng điểm”. - Trong lĩnh vực kỹ thuật lâm sinh: Đặng Văn Thuyết và cs.

(2010) [10] với đề tài “Nghiên cứu hệ thống biện pháp kỹ thuật trồng rừng thâm canh Keo, Bạch đàn, Thông caribea cung cấp gỗ lớn” đã xác định điều kiện gây trồng và các biện pháp kỹ thuật thâm canh (mật độ, bón phân, và kỹ thuật nuôi dưỡng, chuyển hóa thành rừng gỗ lớn cho 5 loài: Keo lai, Keo tai tượng, Keo lá tràm, Bạch đàn nâu và Thông caribea đạt năng suất bình quân tương ứng với mỗi loài là: 25-27, 12-16, 14-18, 15-18 và 20-26 m3/ha/năm.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ