CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC DU LỊCH 1. Nguồn nhân lực Cho đến nay, có rất nhiều khái niệm, nhiều cách tiếp cận khác nhau về NNL. Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, những khái niệm về NNL đưa ra là quan niệm xuyên suốt luận văn về NNL. Theo Liên hợp quốc: "Nguồn nhân lực là trình độ lành nghề, là kiến thức và năng lực của toàn bộ cuộc sống con người hiện có thực tế, hoặc tiềm năng để phát triển kinh tế - xã hội trong một cộng đồng".
Theo các nhà khoa học tham gia chương trình KX-07: “Nguồn nhân lực cần được hiểu là số dân và chất lượng con người, bao gồm cả thể chất và tinh thần, sức khỏe và trí tuệ, năng lực, phẩm chất và đạo đức của người lao động”. Theo giáo trình “Nguồn nhân lực” của Nhà xuất bản Lao động xã hội: “Nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cư có khả năng lao động, không phân biệt người đó đang được phân bố vào ngành nghề, lĩnh vực, khu vực nào và có thể coi đây là nguồn nhân lực xã hội”. Nhóm tác giả Trần Xuân Cầu và Mai Quốc Chánh (2012) cho rằng: “Nguồn nhân lực là một phạm trù dùng để chỉ sức mạnh tiềm ẩn của dân cư, khả năng huy động tham gia vào quá trình tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội trong hiện tại cũng như trong tương lai. Sức mạnh và khả năng đó được thể hiện thông qua số lượng, chất lượng và cơ cấu dân số, nhất là số lượng và chất lượng con người có đủ điều kiện tham gia vào nền sản xuất xã hội:.
Từ các quan điểm về NNL như trên có thể hiểu NNL là khái niệm tổng hợp bao gồm các yếu tố số lượng, chất lượng và cơ cấu phát triển người lao động nói chung cả ở hiện tại cũng như trong tương lai của mỗi tổ chức, mỗi ngành, mỗi địa phương và mỗi quốc gia. Như vậy, khi nghiên cứu về NNL cần phải nghiên cứu trên cả ba phương diện số lượng, chất lượng và cơ cấu. - Số lượng NNL được nghiên cứu thông qua các chỉ tiêu về quy mô và tốc độ tăng trưởng nguồn nhân lực. Sự phát triển về số lượng NNL dựa trên nhóm yếu tố bên trong của tổ chức, đó là nhu cầu thực tế công việc đòi hỏi phải tăng số lượng lao động; và các yếu tố bên ngoài của tổ chức như sự gia tăng về dân số hay lực lượng lao động do di dân.
5 - Chất lượng NNL được nghiên cứu dựa trên yếu tố trí lực, thể lực, nhân cách và thẩm mỹ của người lao động, trong đó trí lực thể hiện ở trình độ dân trí, trình độ chuyên môn, là yếu tố sáng tạo ra giá trị vật chất, văn hóa, tinh thần của con người, vì thế trí tuệ đóng vai trò quyết định trong sự phát triển NNL. Thể lực không chỉ là sức khỏe về thể chất mà còn là sự dẻo dai của hoạt động thần kinh, là sức mạnh của niềm tin và ý chí, là khả năng vận động của trí lực, do đó, thể lực là điều kiện tiên quyết để duy trì và phát triển trí lực, trí lực chỉ có thể phát huy được lợi thế khi thể lực phát triển. - Cơ cấu NNL là yếu tố không thể thiếu khi xem xét đánh giá về NNL. Cơ cấu nhân lực thể hiện trên các phương diện khác nhau: cơ cấu về trình độ đào tạo, lĩnh vực ngành nghề, dân tộc, giới tính, độ tuổi,… 1.
Nguồn nhân lực ngành du lịch NNL của một ngành bao gồm toàn bộ lực lượng lao động tham gia vào quá trình hoạt động và phát triển của ngành đó, do vậy NNLDL bao gồm toàn bộ lực lượng lao động tham gia vào quá trình hoạt động và phát triển ngành Du lịch. Lực lượng lao động trong ngành du lịch đóng vai trò hết sức quan trọng, họ thực hiện nhiệm vụ kinh doanh, khai thác các tiềm năng du lịch, đóng góp thu nhập cho nền kinh tế quốc dân, đồng thời thực hiện chức năng quan trọng thứ hai của mình là chức năng văn hóa, giao tiếp, đại diện cho một địa phương đón tiếp và phục vụ du khách. Căn cứ vào mối liên hệ với đối tượng lao động (khách DL), lực lượng lao động DL được chia thành hai nhóm: là lao động trực tiếp và lao động gián tiếp theo các tác giả Nguyễn Văn Đính và Trần Thị Minh Hòa (2008) thì “Nguồn nhân lực du lịch là lao động trực tiếp và gián tiếp tác động vào ngành Du lịch và của mỗi doanh nghiệp kinh doanh trên lĩnh vực du lịch”. Tác giả Trần Sơn Hải (2011) cho rằng: “NNLDL được hiểu là LLLĐ tham gia vào quá trình phát triển DL, bao gồm lao động trực tiếp và lao động gián tiếp”.
Tác giả Nguyễn Văn Mạnh và Phạm Hồng Chương (2012) cho rằng “Nhân lực ngành Du lịch bao gồm toàn bộ các nhân lực trực tiếp và gián tiếp tham gia vào quá trình phục vụ khách du lịch”. Tác giả Đinh Thị Hải Hậu (2014) đưa ra khái niệm:“Nguồn nhân lực du lịch là lực lượng lao động trong ngành Du lịch bao gồm lao động trực tiếp và lao động gián tiếp thể hiện thông qua số lượng, chất lượng và cơ cấu lao động”. Từ những phân tích trên, NNLDL có thể được hiểu là toàn bộ lực lượng lao động ngành DL bao gồm lao động trực tiếp và lao động gián tiếp thể hiện thông qua số lượng, chất lượng và cơ cấu lao động của ngành. Phát triển nguồn nhân lực du lịch Theo cách tiếp cận theo góc độ quản lý hành chính công, Tác giả Trần Sơn Hải (2011) cho rằng: “Phát triển nguồn nhân lực ngành Du lịch là tổng thể các hình thức, phương pháp, chính sách và biện pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao chất lượng cho nguồn nhân lực (trí tuệ, thể chất và phẩm chất tâm lý - xã hội) làm gia tăng số lượng và điều chỉnh cơ cấu nguồn nhân lực ngành Du lịch cho phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và phát triển du lịch trong từng giai đoạn phát triển”.
Phát triển NNLDL bao hàm quá trình đào tạo nhân lực về kiến thức chung liên quan đến nghề nghiệp, kiến thức nghề nghiệp, kỹ năng nghề nghiệp, văn hóa và sức khỏe nghề nghiệp Tiếp cận theo góc độ kinh tế, Tác giả Đinh Thị Hải Hậu (2014) đưa ra định nghĩa: “Phát triển NNLDL là quá trình thúc đẩy việc học tập có tính tổ chức nhằm tăng thêm về số lượng, nâng cao chất lượng và thiết lập cơ cấu nguồn nhân lực hợp lý thông qua việc thực hiện các hoạt động học tập, hoạt động đào tạo kỹ năng và hoạt động phát triển đáp ứng yêu cầu phát triển của ngành Du lịch một quốc gia”. Nội dung phát triển NNLDL bao gồm ba hoạt động: Hoạt động học tập, hoạt động đào tạo kỹ năng và hoạt động phát triển. Tóm lại, theo góc độ tiếp cận chuyên ngành quản lý kinh tế, phát triển NNLDL được hiểu ở góc độ tăng tưởng và điều chỉnh hợp lý số lượng, phù hợp với cơ cấu, hoàn thiện và nâng cao chất lượng NNLDL phù hợp với sự phát triển của ngành DL. Từ các luận giải trên có thể định nghĩa phát triển NNLDL là tổng thể các hình thức, phương pháp, chính sách và biện pháp nhằm tăng trưởng về số lượng, phát triển về cơ cấu và nâng cao chất lượng NNLDL trên các mặt (mức độ đáp ứng yêu cầu công việc, kiến thức chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, thể chất và tinh thần, thái độ làm việc) cho phù hợp với yêu cầu phát triển Kinh tế – xã hội và phát triển DL của địa phương, vùng DL, một quốc gia trong từng giai đoạn phát triển.
Đặc điểm của nguồn nhân lực ngành du lịch Ngành DL từ nhiều năm nay luôn chứng minh vai trò của mình là một trong những ngành tạo ra lợi nhuận hấp dẫn và đóng góp lớn vào tăng trưởng GDP của các quốc gia trên thế giới và giữ vị trí đặc biệt quan trọng trong nền kinh tế toàn cầu. Ngành DL có đặc thù cơ bản là mang tính phi sản xuất vật chất, không mang lại sản phẩm vật chất mà thông qua cung cấp dịch vụ để thỏa mãn nhu cầu của du khách. NNLDL có một số đặc điểm chung như sau: 7 Thứ nhất, NNLDL có tính chuyên môn hoá cao: Tính chuyên môn hóa được thể hiện ở việc phân chia nhiệm vụ từng khâu, từng bộ phận khác nhau. Mỗi bộ phận đều có ảnh hưởng dây chuyền đến các bộ phận khác trong toàn bộ hệ thống, ảnh hưởng đến quá trình cung ứng dịch vụ tới khách hàng.
NNLDL đòi hỏi phải có khả năng giao tiếp tốt, kiên trì và nhẫn nại. NNLDL (lữ hành hoặc lưu trú) luôn đòi hỏi phải có sức khỏe tốt, không có bệnh, không dị hình, dị vật. Đặc biệt, trong DL, mức độ chuyên môn hóa của lao động rất cao bởi các hoạt động phục vụ DL có tính độc lập tương đối (hướng dẫn viên, lễ tân khách sạn, nhân viên pha chế,…) dẫn đến đòi hỏi về trình độ kỹ thuật và nghiệp vụ chuyên môn của NNLDL khá cao Thứ hai, Khả năng cơ giới hoá và tự động hoá thấp: Trong ngành dịch vụ, nhân tố con người luôn giữ vai trò quan trọng, trong khi đó sản phẩm chủ yếu của DL là dịch vụ, tất nhiên cũng có một số công việc có thể sử dụng các phần mềm quản lý. Đối với ngành khách sạn, con người là yếu tố quyết định sự thành bại của hoạt động kinh doanh do có ảnh hưởng trực tiếp tới mức độ hài lòng của khách.
Mọi công đoạn đón tiếp, phục vụ và tiễn khách không thể thiếu sự tham gia trực tiếp của con người, đội ngũ lao động trong khách sạn. Đối với hoạt động của hướng dẫn viên, đây là hoạt động tổ chức và phục vụ khách DL, cung cấp các dịch vụ, vì vậy không thể thay thế bằng hệ thống máy móc. Sản phẩm lữ hành được tạo ra theo một quy trình mang tính tổng hợp cao và rất đa dạng nên khả năng cơ giới hoá, tự động hoá trong công việc là rất thấp. Thứ ba, NNLDL phải có kiến thức về kinh tế, văn hóa, xã hội, lịch sử, địa lý, giỏi ngoại ngữ, tin học, có tinh thần dân tộc, đổi mới và hội nhập: NNLDL thường xuyên chịu tác động của mối quan hệ “người - người” trong kinh doanh và phục vụ khách DL.
Thực tế, khách DL quốc tế đến từ nhiều quốc gia trên thế giới và nền văn hóa, dân tộc ngôn ngữ của mỗi du khách cũng khác nhau.