Tổng quan nghiên cứu

Việt Nam sở hữu tiềm năng bức xạ dồi dào với khoảng 2.600 giờ nắng mỗi năm và cường độ bức xạ dao động trung bình từ 4,5 đến 5,8 kWh/m2/ngày. Tuy nhiên, việc bảo đảm an ninh năng lượng tại các khu vực hải đảo biệt lập như huyện Côn Đảo, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu vẫn đối mặt với nhiều thách thức nghiêm trọng. Huyện Côn Đảo là một quần đảo gồm 16 hòn đảo với diện tích đất nổi khoảng 76 km2 và quy mô dân số đạt hơn 8.000 người vào năm 2018. Do nằm cách đất liền 185 km tính từ thành phố Vũng Tàu, huyện không thể liên kết với hệ thống lưới điện quốc gia và phải phụ thuộc hoàn toàn vào hệ thống lưới điện độc lập chạy dầu diesel với tổng công suất thiết kế 8,56 MW từ hai nhà máy điện Trung tâm và An Hội.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là giải quyết tình trạng thiếu hụt điện năng cục bộ trong các khung giờ cao điểm và giảm thiểu áp lực ô nhiễm môi trường do việc đốt nhiên liệu hóa thạch gây ra. Mục tiêu nghiên cứu cụ thể bao gồm: đánh giá tiềm năng bức xạ mặt trời thực tế, phân tích hiệu quả vận hành của mô hình trạm điện mặt trời 36 kWp kết nối với nhà máy diesel An Hội, và đề xuất hệ thống giải pháp liên ngành nhằm phát triển nguồn năng lượng tái tạo bền vững cho huyện đảo.

Phạm vi nghiên cứu được thực hiện liên tục trên địa bàn huyện Côn Đảo từ tháng 4 năm 2017 đến tháng 8 năm 2019. Nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn to lớn khi giúp giảm thiểu chi phí phát điện đắt đỏ, cắt giảm phát thải khí nhà kính với hệ số định mức 0,907 tCO2/MWh, đồng thời đóng góp vào việc thực hiện Chiến lược phát triển năng lượng tái tạo của Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 nhằm phổ cập năng lượng sạch cho 100% người dân vùng hải đảo.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết phát triển bền vững năng lượng và lý thuyết khoa học liên ngành để tiếp cận bài toán chuyển dịch cơ cấu nguồn điện trên hải đảo. Khung phân tích trọng tâm của luận văn kế thừa mô hình đánh giá đa tiêu chí cho các hệ thống năng lượng kết hợp được phát triển bởi nhà khoa học Timur Gül thuộc Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA, 2004). Mô hình phân tích tích hợp này xem xét 3 trụ cột cấu thành: Khía cạnh Môi trường (phát thải khí nhà kính CO2, phát thải khí ô nhiễm NOx và ô nhiễm tiếng ồn); Khía cạnh Xã hội (khả năng thích ứng, sự đồng thuận cộng đồng, tác động việc làm và bảo vệ sức khỏe y tế); Khía cạnh Kinh tế (chi phí đầu tư trên mỗi Watt, chi phí sản xuất trên mỗi kWh, yêu cầu bảo dưỡng và mức độ độc lập nhập khẩu nhiên liệu).

Bên cạnh đó, luận văn làm rõ các khái niệm khoa học nền tảng bao gồm: Bức xạ mặt trời toàn cầu theo phương ngang (GHI), hiệu ứng quang điện (Photovoltaic - PV), chi phí sản xuất điện quy dẫn (LCOE), và mô hình hệ thống điện lai ghép kết hợp giữa pin mặt trời, hệ thống ắc quy lưu trữ và máy phát diesel (Solar-Diesel-Battery Hybrid System). Hướng tiếp cận của đề tài là sự kết hợp chặt chẽ giữa cách tiếp cận từ trên xuống (Top-down) thông qua các chính sách năng lượng quốc gia như Quyết định số 11/2017/QĐ-TTg và cách tiếp cận từ dưới lên (Bottom-up) dựa trên điều kiện tự nhiên, hạ tầng kỹ thuật và nhu cầu sử dụng điện thực tế tại Côn Đảo.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp đồng bộ giữa phương pháp nghiên cứu tại bàn (Desktop study) để thu thập dữ liệu thứ cấp và phương pháp khảo sát thực địa bằng bảng hỏi để thu thập dữ liệu sơ cấp. Cỡ mẫu điều tra thực tế gồm 41 đối tượng chuyên sâu, bao gồm: 05 cán bộ quản lý thuộc Sở Công Thương tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, 05 cán bộ kỹ thuật và vận hành thuộc Công ty Điện lực huyện Côn Đảo, cùng 31 hộ dân đại diện đang sinh sống và kinh doanh trên địa bàn huyện đảo.

Phương pháp chọn mẫu được áp dụng là kỹ thuật chọn mẫu có chủ đích đối với nhóm cán bộ quản lý và chuyên gia năng lượng nhằm thu thập dữ liệu chính xác về kỹ thuật vận hành lưới điện, kết hợp với phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng đối với các hộ gia đình đại diện cho các nhóm tiêu thụ điện sinh hoạt và dịch vụ du lịch. Lý do lựa chọn phương pháp phân tích đánh giá đa tiêu chí định tính kết hợp định lượng là vì hệ thống điện hải đảo mang tính chất biệt lập cao, đòi hỏi phải cân nhắc toàn diện giữa yếu tố chi phí kinh tế với các giá trị sinh thái và mức độ chấp nhận của cộng đồng bản địa. Dữ liệu khảo sát được tổng hợp, mã hóa và xử lý thống kê mô tả thông qua phần mềm Microsoft Excel. Toàn bộ tiến trình nghiên cứu được triển khai xuyên suốt từ tháng 4 năm 2017 đến tháng 8 năm 2019 dựa trên chuỗi số liệu bức xạ khí tượng 30 năm và dữ liệu vận hành điện lực giai đoạn 2016-2017.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, kết quả xử lý chuỗi số liệu khí tượng khẳng định Côn Đảo có tiềm năng năng lượng mặt trời dồi dào với tổng số giờ nắng đạt 2.582,5 giờ/năm và tổng lượng bức xạ đo được đạt mức 1.664 kWh/m2/năm, hoàn toàn đáp ứng các điều kiện kỹ thuật để mở rộng các nhà máy điện mặt trời nối lưới.

Thứ hai, kết quả phân tích thực nghiệm từ trạm điện mặt trời 36 kWp (gồm 144 tấm pin đa tinh thể công suất 250 Wp, hiệu suất module 15,35% và 2 biến tần Ingeteam công suất 16,5 kW) cho thấy sản lượng điện sản xuất thực tế trong năm 2016 đạt 41.143 kWh. Với hệ số phát thải của nhà máy diesel An Hội là 0,907 tCO2/MWh, trạm điện mặt trời 36 kWp đã giúp giảm phát thải trực tiếp 37,317 tấn CO2 mỗi năm ra môi trường.

Thứ ba, khảo sát hiện trạng cấp điện cho thấy vào các khung giờ cao điểm buổi tối, hai nhà máy điện diesel với tổng công suất thiết kế 8,56 MW thường xuyên phải hoạt động luân phiên và không thể đáp ứng 100% nhu cầu phụ tải, dẫn đến tình trạng cắt điện cục bộ từ 30 phút đến 1 tiếng tại một số khu vực dân cư. Việc đưa trạm 36 kWp vào vận hành đã gánh tải hiệu quả vào ban ngày, hỗ trợ đắc lực khi các tổ máy diesel hoạt động quá tải.

Thứ tư, về mặt kinh tế, suất đầu tư máy phát điện diesel dao động từ 0,25 đến 0,5 USD/W, thấp hơn so với suất đầu tư hệ thống điện mặt trời quy mô nhỏ (dao động từ 0,8 đến 1,1 USD/Wp). Tuy nhiên, hệ thống diesel chịu gánh nặng chi phí nhiên liệu dầu và phí vận chuyển đường biển rất lớn trong suốt vòng đời dự án.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân chính dẫn đến sự thiếu hụt điện năng tại Côn Đảo là do tính chất cô lập của lưới điện độc lập và tốc độ phát triển du lịch dịch vụ nhanh chóng, khiến nhu cầu phụ tải tăng vượt dự báo. Việc tích hợp hệ thống quang điện vào lưới diesel đã cải thiện rõ rệt chỉ số sinh thái từ mức Thấp lên mức Trung bình và nâng chỉ số bảo vệ sức khỏe lên mức Cao nhờ triệt tiêu lượng khói thải chứa khí NOx và bụi mịn vào ban ngày.

Trên biểu đồ phụ tải ngày đêm và bảng cân bằng năng lượng, các dữ liệu có thể được mô phỏng trực quan để thấy rõ khả năng bù công suất: hệ thống pin quang điện phát công suất cực đại từ 9 giờ đến 15 giờ, giúp tiết kiệm hàng nghìn lít dầu diesel mỗi tháng và kéo dài tuổi thọ cho các tổ máy diesel An Hội. So sánh với các nghiên cứu tương tự về hệ thống lai ghép tại Indonesia hay Mông Cổ, mô hình tại Côn Đảo cho thấy hiệu quả môi trường vượt trội, tuy nhiên vẫn cần tháo gỡ rào cản về việc phụ thuộc linh kiện nhập khẩu và bảo đảm năng lực kỹ thuật bảo dưỡng biến tần tại chỗ.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, mở rộng công suất lắp đặt hệ thống điện mặt trời nối lưới phân tán từ mức 36 kWp lên quy mô 3 MWp đến 5 MWp theo từng giai đoạn từ năm 2021 đến năm 2025, phấn đấu nâng tỷ trọng điện mặt trời chiếm từ 15% đến 20% tổng sản lượng điện toàn huyện. Chủ thể thực hiện là Tổng công ty Điện lực miền Nam phối hợp cùng Công ty Điện lực huyện Côn Đảo.

Thứ hai, hoàn thiện cơ chế chính sách giá điện đặc thù cho huyện đảo và hợp đồng mua bán điện PPA dài hạn, duy trì mức giá FIT ưu đãi tối thiểu 9,35 UScent/kWh hoặc áp dụng cơ chế đấu thầu cạnh tranh công khai giai đoạn 2020-2023 nhằm thu hút các nguồn vốn đầu tư ngoài ngân sách. Đơn vị chủ trì là Bộ Công Thương và Ủy ban nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

Thứ ba, thiết lập các gói hỗ trợ tài chính ưu đãi thông qua việc đẩy mạnh tiếp cận các nguồn vốn viện trợ phát triển ODA không hoàn lại tương tự dự án 149.000 Euro của Tây Ban Nha, đồng thời áp dụng lãi suất vay ưu đãi dưới 6%/năm cho các dự án năng lượng tái tạo giai đoạn 2021-2024. Cơ quan thực hiện là Ủy ban nhân dân huyện Côn Đảo và Sở Kế hoạch và Đầu tư.

Thứ tư, triển khai các khóa đào tạo phát triển nguồn nhân lực kỹ thuật cao tại chỗ, bảo đảm 100% đội ngũ kỹ sư và công nhân vận hành của Điện lực Côn Đảo làm chủ quy trình bảo dưỡng biến tần, vệ sinh mảng pin và điều khiển hệ thống lưu trữ ắc quy trước năm 2023. Đơn vị phối hợp thực hiện là Viện Năng lượng và các trường đại học chuyên ngành.

Thứ năm, tăng cường công tác thông tin tuyên truyền, đặt mục tiêu vận động 30% số hộ dân, khách sạn và resort trên đảo lắp đặt hệ thống điện mặt trời áp mái tự dùng đến năm 2025.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, các nhà hoạch định chính sách và cán bộ quản lý năng lượng tại Bộ Công Thương, Sở Công Thương các tỉnh ven biển và Tập đoàn Điện lực Việt Nam: Luận văn cung cấp căn cứ thực tiễn để xây dựng quy hoạch điện lực hải đảo, ban hành khung giá mua điện tái tạo đặc thù và xây dựng cơ chế quản lý lưới điện độc lập.

Thứ hai, các doanh nghiệp đầu tư và đơn vị tư vấn thiết kế dự án năng lượng tái tạo: Tài liệu cung cấp thông số kỹ thuật chi tiết về cấu hình tấm pin 250 Wp, biến tần 16,5 kW, góc nghiêng lắp đặt 15 độ hướng Nam và dữ liệu so sánh suất đầu tư 0,8 - 1,1 USD/Wp, hỗ trợ trực tiếp cho quá trình lập báo cáo nghiên cứu khả thi (FS).

Thứ ba, Ủy ban nhân dân huyện Côn Đảo và ban quản lý các huyện đảo trên cả nước như Phú Quý, Bạch Long Vĩ, Cô Tô: Ứng dụng mô hình lai ghép Solar-Diesel để giải quyết dứt điểm bài toán thiếu điện sinh hoạt, giảm thiểu phát thải khí nhà kính và bảo tồn hệ sinh thái rừng Vườn Quốc gia Côn Đảo phục vụ du lịch xanh.

Thứ tư, các giảng viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh thuộc chuyên ngành Khoa học bền vững, Quản lý môi trường và Kỹ thuật năng lượng: Khai thác phương pháp luận đánh giá đa tiêu chí của Timur Gül, bảng câu hỏi khảo sát 41 mẫu và chuỗi số liệu bức xạ 2.582,5 giờ nắng làm tài liệu nghiên cứu học thuật điển hình.

Câu hỏi thường gặp

Tiềm năng bức xạ mặt trời tại Côn Đảo có đủ điều kiện để phát triển điện mặt trời quy mô lớn không?

Côn Đảo có tiềm năng bức xạ rất thuận lợi với 2.582,5 giờ nắng mỗi năm và tổng lượng bức xạ đạt 1.664 kWh/m2/năm. Các chỉ số này tương đương với các khu vực có bức xạ cao tại Nam Trung Bộ, hoàn toàn bảo đảm tính khả thi kỹ thuật và hiệu quả kinh tế để mở rộng các trạm điện mặt trời nối lưới.

Tại sao Côn Đảo chưa thể thay thế hoàn toàn nguồn điện diesel bằng điện mặt trời?

Điện mặt trời phụ thuộc vào thời tiết và chỉ phát điện vào ban ngày, trong khi nhu cầu phụ tải của Côn Đảo đạt đỉnh vào buổi tối. Do đó, hệ thống máy phát diesel với tổng công suất 8,56 MW vẫn đóng vai trò nguồn phát nền tảng bắt buộc để duy trì tính liên tục và ổn định 24/7 cho hệ thống lưới điện độc lập.

Trạm điện mặt trời 36 kWp tại Côn Đảo mang lại hiệu quả cắt giảm phát thải khí nhà kính như thế nào?

Trong năm 2016, trạm điện mặt trời 36 kWp đã tạo ra sản lượng điện đạt 41.143 kWh. Căn cứ theo hệ số phát thải 0,907 tCO2/MWh của nhà máy diesel An Hội, trạm đã giúp giảm thiểu trực tiếp 37,317 tấn CO2 phát thải mỗi năm, đồng thời giảm thiểu lượng khí độc NOx và bụi khói trong khu dân cư.

Chi phí đầu tư giữa nguồn điện mặt trời và máy phát điện diesel tại hải đảo chênh lệch ra sao?

Suất đầu tư ban đầu của máy phát diesel khá thấp, chỉ khoảng 0,25 đến 0,5 USD/W, trong khi điện mặt trời dao động từ 0,8 đến 1,1 USD/Wp. Tuy nhiên, điện mặt trời có chi phí vận hành bảo dưỡng rất thấp và không tốn chi phí nhiên liệu, giúp tiết kiệm ngân sách đường dài so với việc đốt dầu diesel liên tục.

Cấu hình kỹ thuật của hệ thống điện mặt trời 36 kWp tại An Hội được thiết kế như thế nào?

Hệ thống bao gồm 144 tấm pin quang điện đa tinh thể công suất 250 Wp, bố trí thành 7 mảng với góc nghiêng 15 độ hướng chính Nam. Nguồn điện một chiều DC được kết nối qua 2 bộ biến tần Ingeteam công suất 16,5 kW đạt hiệu suất 97% trước khi hòa đồng bộ vào lưới điện hạ áp của nhà máy An Hội.

Kết luận

  • Luận văn đã xác lập cơ sở khoa học vững chắc về tiềm năng bức xạ mặt trời dồi dào tại huyện Côn Đảo với 2.582,5 giờ nắng/năm và tổng bức xạ đạt 1.664 kWh/m2/năm.
  • Kết quả thực nghiệm khẳng định trạm điện mặt trời 36 kWp sản xuất 41.143 kWh/năm, giúp cắt giảm hiệu quả 37,317 tấn CO2 phát thải từ các tổ máy diesel An Hội.
  • Nghiên cứu chứng minh giải pháp lai ghép Solar-Diesel-Battery là mô hình tối ưu giúp bảo đảm an ninh năng lượng và cân bằng hài hòa giữa ba trụ cột Môi trường, Xã hội và Kinh tế trên hải đảo.
  • Đề tài đóng góp hệ thống phương pháp luận đánh giá liên ngành toàn diện, làm tài liệu tham khảo giá trị cho các mô hình cấp điện ngoài lưới tại Việt Nam.
  • Đề xuất lộ trình 5 nhóm giải pháp đồng bộ về kỹ thuật, giá FIT, vốn tài chính ODA và phát triển nhân lực với mục tiêu mở rộng công suất lên 3 - 5 MWp giai đoạn 2021-2025.

Đóng góp lớn nhất của công trình là cung cấp luận cứ thực tiễn giúp chính quyền địa phương và ngành điện lực tháo gỡ điểm nghẽn an ninh năng lượng cho Côn Đảo. Trong giai đoạn tiếp theo, các cơ quan chức năng cần khẩn trương mở rộng quy mô tích trữ năng lượng và ban hành cơ chế khuyến khích điện mặt trời mái nhà. Hãy áp dụng ngay các giải pháp khoa học bền vững để đưa Côn Đảo trở thành huyện đảo sinh thái xanh kiểu mẫu của cả nước.