CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài 1. Tổng quan về phát triển kinh tế nông, lâm, ngư nghiệp và du lịch ven biển 1. Trên thế giới Từ khi có Công ước Liên Hợp Quốc về Luật biển năm 1982 các quốc gia ven biển đều tham gia thực hiện và luật hóa các vùng biển của mình.
Nhiều công trình nghiên cứu về lợi ích của biển đối với việc phát triển kinh tế được đặt ra như nghiên cứu khai thác các nguồn lợi thủy, hải sản biển; khai thác các nguồn tài nguyên RNM, rạn san hô… Biến đổi khí hậu và nước biển dâng gây nguy cơ ngập lụt các vùng đất thấp và suy giảm ĐDSH biển, ven biển cũng như ảnh hưởng tới các ngành kinh tế ven biển cũng được nghiên cứu [49, 53]. Nhiều quốc gia đã đẩy mạnh các biện pháp bảo vệ tài nguyên biển: xây dựng các khu bảo tồn biển, khu RAMSAR, các khu di sản và khu dự trữ sinh quyển UNESCO, công viên biển… Nhiều phương pháp quản lý tổng hợp được đưa ra như Quản lý tổng hợp vùng bờ (ICZM), quản trị vùng ven biển [55] nhằm phát triển kinh tế - xã hội bền vững vùng ven biển. Những hoạt động sản xuất kinh doanh gắn liền với kinh tế ven biển cũng được phân tích, chỉ ra các yếu tố liên quan đến việc quản lý đối với sự phát triển của kinh tế ven biển như khai thác thủy hải sản, quản lý vịnh, quản lý môi trường, nước thải, chất thải ở vùng ven biển… 1. Ở Việt Nam Ở nước ta, vấn đề kinh tế biển và ven biển đã được Đảng và Nhà nước quan tâm.
Đề án “Phát triển du lịch biển, đảo và vùng ven biển Việt Nam đến năm 2020” đã xác định những định hướng dài hạn và tổng hợp, toàn diện về du lịch biển thời kỳ đến năm 2020, “Phấn đấu đến năm 2020 đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển, bảo đảm vững chắc chủ quyền quốc gia trên biển, đảo, góp phần quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, làm cho đất nước giàu mạnh” [42, 3]. Phạm Xuân Hậu (2011) đã nghiên cứu, phân tích vấn đề phát triển tổng hợp kinh tế biển – đảo, ven biển và xây dựng các khu kinh tế ven biển [11]. Đã có nhiều công trình nghiên cứu về phát triển kinh tế biển hoặc ven biển theo hướng phát triển bền vững tại Việt Nam. Các nghiên cứu đã tiến hành đánh giá tiềm năng, các nhân tố chủ yếu ảnh hưởng tới phát triển kinh tế dải ven biển dưới góc độ địa lý học, đồng thời phân tích thực trạng phát triển kinh tế và nêu ra các định 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hướng, đề xuất giải pháp phát triển bền vững và có hiệu quả.
Có thể kể đến nghiên cứu “Hiện trạng và định hướng phát triển bền vững kinh tế biển ở tỉnh Bến Tre” [33]; “Phát triển kinh tế dải ven biển Thanh - Nghệ - Tĩnh” [48]; “Cơ sở địa lý cho phát triển nông - lâm nghiệp các huyện ven biển tỉnh Quảng Nam” [37]; “Nghiên cứu phát triển du lịch dựa vào cộng đồng vùng ven biển Nam Định” [22]; “Đánh giá tiềm năng tự nhiên phục vụ phát triển du lịch bền vững khu vực ven biển và các đảo tỉnh Quảng Ninh” [10]; “Nghiên cứu, đánh giá tài nguyên du lịch và điều kiện sinh khí hậu phục vụ phát triển du lịch bền vững khu vực Quảng Ninh – Hải Phòng” [41], “Nghiên cứu đánh giá cảnh quan phục vụ phát triển kinh tế và bảo tồn rừng ngập mặn khu vực mũi Cà Mau” [26], “Đánh giá thích nghi sinh thái phục vụ phát triển kinh tế và bảo tồn rừng ngập mặn khu vực Mũi Cà Mau” [25]… Một số công trình nghiên cứu đã phân tích, đánh giá các chủ trương chính sách nhằm khai thác tiềm năng, lợi thế phát triển kinh tế ven biển, chỉ ra những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân hạn chế đối với phát triển kinh tế; từ đó đề xuất phương hướng và giải pháp chủ yếu nhằm xây dựng chính sách phát triển kinh tế ven biển [32, 36]. Các công trình nghiên cứu về bảo tồn rừng ngập mặn 1. Trên thế giới Nhu cầu bảo tồn RNM đã được công nhận từ những năm 1970 [80]. Năm 1983, UNDP và UNESCO tiến hành đánh giá giá trị các HST RNM khu vực châu Á - Thái Bình Dương.
Sáng kiến quốc tế này giúp giá trị RNM được đánh giá cao hơn, đánh dấu sự bùng nổ trong nỗ lực bảo tồn và phục hồi RNM [79]. Bảo tồn rừng ngập mặt theo một cách nhìn toàn cầu đã được đưa ra trong nghiên cứu [76]. Tiếp theo, nhiều công trình nghiên cứu về bảo tồn các HST RNM khác được thực hiện tại nhiều quốc gia trên thế giới: Philippin [59], đông Java [60], miền Nam Thái Lan [77], Hong Kong [80], Bangladesh [72, 73], Sri Lanka [86], Singapore [62], Thái Lan [69]; Việt Nam [79] … Cho thấy, quản lý và bảo tồn RNM là vấn đề cấp bách đang ngày càng được quan tâm. Các HST ven biển bao gồm RNM phải được sử dụng, phục hồi bền vững dựa trên kết hợp giữa Nhà nước và tư nhân.
Chính sự kết hợp của các ngành, các cấp chính quyền, các bên liên quan trong xã hội cùng những ràng buộc pháp lý ở cấp độ quốc gia, quốc tế là nhân tố quyết định đến hiệu quả quản lý và bảo tồn RNM [58]. Mặt khác, để bảo tồn bền vững, đảm bảo sinh kế cho người dân là vấn đề cốt lõi. Do 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com vậy, một chính sách đảm bảo quyền lợi và trách nhiệm của cộng đồng địa phương, một tuyên bố rõ ràng về lợi ích kinh tế của các nguồn tài nguyên ven biển cần phải được xây dựng. Bên cạnh đó, những cải tiến về cách thức quản lý và bảo tồn thông qua chuyển giao quyền sở hữu cũng góp phần đảm bảo sinh kế cho người dân địa phương, nâng cao hiệu quả bảo tồn RNM [56, 61, 71, 73].
Cộng đồng có xu hướng vận dụng kiến thức và văn hóa truyền thống của họ trong hoạt động bảo tồn rừng. Do đó, văn hóa cộng đồng cần phải được kết hợp trong chính sách địa phương nhằm nâng cao hiệu quả phát triển và bảo tồn ven biển, trong đó có RNM [57, 64, 74, 86]. Sáng kiến RNM cho Tương lai (MFF) được đề xướng bởi Nguyên Tổng thống Bill Clinton tại Phuket, Thái Lan (2016) mang tầm chiến lược dựa trên hợp tác đối tác với sự đồng chủ trì của IUCN và UNDP nhằm tăng cường đầu tư vào bảo tồn HST ven biển hỗ trợ phát triển bền vững. MFF chú trọng việc bảo tồn và quản lý tốt các HST ven biển với HST tiêu biểu là RNM, nhằm góp phần nâng cao sức chống chịu của cộng đồng ven biển sống phụ thuộc vào các HST tại Bangladesh, Cambodia, India, Indonesia, Maldives, Myanmar, Pakistan, Seychelles, Sri Lanka, Thái Lan và Việt Nam.
Ở Việt Nam a) Chính sách quản lý, bảo vệ và phục hồi rừng ngập mặn Việt Nam đã chính thức gia nhập Công ước Ramsar năm 1989 và là quốc gia đầu tiên trong khu vực Đông Nam Á. Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định ban hành Quy chế quản lý rừng trong đó quy định rõ trách nhiệm quản lý, bảo vệ RNM, tạo điều kiện bảo tồn và phát huy HST bền vững, thích ứng với biến đổi khí hậu. Nghị định số 109/2003/NĐ-CP ngày 23/9/2003 của Chính phủ về Bảo tồn và phát triển bền vững ĐNN đã tạo hành lang pháp lý và đóng góp quan trọng cho công tác bảo tồn và sử dụng bền vững các vùng ĐNN của Việt Nam, đặc biệt là RNM [38]. Để phục hồi RNM, Đề án "Khôi phục và phát triển RNM ven biển, giai đoạn 2008 - 2015" đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt ngày 16/3/2009 và giao cho Bộ NN&PTNT chủ trì thực hiện, kinh phí dự kiến lên đến 2.
Với mục tiêu thiết lập hệ thống RNM để phòng, chống thiên tai, bảo vệ môi trường một cách ổn định, đề án yêu cầu phải phát triển toàn bộ HST RNM ven biển với kế hoạch dài hạn, có các giải pháp khoa học kỹ thuật gắn liền với phát triển KT - XH. Giai đoạn đầu đã trồng và nâng cao chất lượng rừng với diện tích trên 32.800 ha, trồng thêm hơn 97.500 ha, nâng tổng diện tích RNM cả nước lên trên 307. Tháng 2/2012, Chính phủ ra quyết định về việc Thí điểm chia sẻ lợi ích trong quản lý, bảo vệ và phát triển bền vững rừng đặc dụng, với một diện tích lớn rừng đặc 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com dụng ven biển là RNM. Người dân được quyền khai thác, sử dụng các nguồn tài nguyên và nuôi trồng các loài động vật, thực vật theo quy định trong phạm vi rừng đặc dụng.
Đồng thời, họ cũng phải có nghĩa vụ bảo vệ, bảo tồn và phát triển bền vững nguồn tài nguyên đặc biệt này [40]. Quyết định số 120/QĐ-TTg về việc phê duyệt Đề án bảo vệ và phát triển rừng ven biển ứng phó với biến đổi khí hậu giai đoạn 2015 – 2020 với quan điểm: Quản lý, bảo vệ và phát triển rừng ven biển là nhiệm vụ cấp bách, quan trọng nhằm phòng chống thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu và nước biển dâng; phù hợp với Chiến lược phát triển lâm nghiệp giai đoạn 2006 - 2020, đảm bảo hiệu quả bền vững; hài hòa giữa lợi ích quốc gia với địa phương và các tổ chức, cá nhân tham gia quản lý, bảo vệ và phát triển rừng. Nhiệm vụ cụ thể của đề án là Bảo vệ diện tích rừng hiện có, phục hồi rừng chất lượng kém và trồng rừng mới tại các địa phương ven biển [39]. b) Các chương trình, dự án Năm 2006-2007, Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường, ĐHQGHN (CRES) triển khai mô hình phục hồi HST RNM Khu Bảo tồn Thiên nhiên ĐNN Tiền Hải, Thái Bình.
Năm 2012, Bộ NN&NT và Tổ chức Hợp tác Phát triển Đức GIZ đã ký thỏa thuận thực hiện 2 chương trình hợp tác kỹ thuật nhằm bảo tồn và sử dụng bền vững ĐDSH rừng và bảo vệ tổng hợp vùng ven biển và RNM ĐBSCL. Mục tiêu của dự án là hỗ trợ thiết lập cần thiết nhằm bảo vệ và sử dụng bền vững ĐDSH ở cấp trung ương và các dịch vụ HST rừng tại Việt Nam, trong đó có HST RNM, góp phần thực hiện Chiến lược Tăng trưởng Xanh. Những giải pháp này áp dụng cho các lĩnh vực như tái sinh RNM, bảo vệ rừng ven biển, gây dựng các cơ hội tạo thu nhập thông qua thực tiễn canh tác thay thế cho người dân địa phương.