CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NGÀNH DỆT MAY VIỆT NAM 1. ĐẶC ĐIỂM CHUNG NGÀNH DỆT MAY VIỆT NAM. Thời gian qua, ngành dệt-may Việt Nam đã gặt hái được nhiều thành tựu to lớn và có những bước tiến quan trọng trong quá trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới. Sản phẩm dệt -may đã xuất hiện rất nhiều tại các thị trường nổi tiếng và khó tính như: Mỹ, EU, Nhật Bản, Australia…Kim ngạch xuất khẩu của ngành đứng thứ hai sau dầu khí.
Thêm nữa, ngành đã tạo việc làm cho hàng triệu lao động khắp cả nước. Đây không chỉ là kết quả của những nỗ lực tự thân của toàn ngành mà có sự trợ giúp của Chính phủ. Năm 2008 được coi là năm khá thành công của ngành dệt may Việt Nam. Bởi hầu hết các nước trong khu vực đều bị ảnh hưởng nặng nề của suy thoái kinh tế.
Hoạt động sản xuất và xuất khẩu bị ngưng trệ. Tuy nhiên, ngành dệt may Việt Nam vẫn đạt được tăng trưởng ấn tượng với hai con số. Dệt may hiện đang sử dụng gần 5% lao động toàn quốc (hơn 20% lao động trong khu vực công nghiệp), tạo ra gần 10% GDP, kim ngạch xuất khẩu luôn đứng thứ 2 (sau xuất khẩu dầu thô) và đóng góp từ 14%-16% trong kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Chính vì vậy, mọi nguồn lực trước đây của Ngành luôn dành cho việc phát triển thị trường xuất khẩu, đặc biệt là thị trường Mỹ, EU và Nhật Bản.
Kể từ ngày 11/01/2007 khi Việt Nam trở thành thành viên chính thức thứ 150 của WTO thì thị trường xuất khẩu ngày càng có cơ hội mở rộng. NHỮNG THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN CỦA NGÀNH DỆT MAY VN TRONG THỜI KỲ HỘI NHẬP. Những thuận lợi: Trong những năm qua, Ngành dệt may Việt Nam đã đạt được rất nhiều thành công trong việc giải quyết việc làm cho người lao động cũng như đóng góp vào kim ngạch xuất khẩu chung của cả nước, từng bước đưa nước ta trở thành một trong 10 quốc gia có ngành dệt may phát triển nhất thế giới. Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam không ngừng được gia tăng qua các năm.
Năm 2003, kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này mới chỉ dừng ở 3,6 tỷ USD; thì sang 3 123doc năm 2004 đạt 4,3 tỷ USD và cho đến năm 2008 tổng kim ngạch xuất khẩu ngành dệt may Việt Nam là 9,1 tỷ USD, tăng 20,6% so với cùng kỳ năm ngoái. Hiện nay, Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam, chiếm 57% thị phần xuất khẩu, thị trường EU chiếm 18%, Nhật Bản là 9%. Xuất khẩu sang Nhật Bản và Đài Loan đang hồi phục. Hoạt động mở rộng thị trường sang khu vực Châu Phi và các nước Châu Á khác cũng khá tốt.
Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may sang các thị trường này đều có mức tăng trưởng cao. Những khó khăn. Bên cạnh những thuận lợi vừa nêu, ngành dệt may Việt Nam cũng đang gặp phải không ít khó khăn: Cho tới nay, khó khăn lớn nhất của ngành dệt may nước ta vẫn chưa chủ động được nguồn nguyên liệu đầu vào. Nguyên phụ liệu phục vụ sản xuất và xuất khẩu phải nhập khẩu tới 90%.
Điều này thể hiện rất rõ qua đồ thị tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của nước ta và biểu đồ tăng trưởng của kim ngạch nhập khẩu nguyên phụ liệu chính (bông, sợi và vải) qua các năm như sau: Theo kế hoạch năm 2009, kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam trong cả năm 2009 tăng 23% so với năm 2008. Trong 9 tháng đầu năm nay, kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của nước ta chỉ tăng 20% so với cùng kỳ năm ngoái. Như vậy so với mức tăng mục tiêu thì mức tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này vẫn đạt thấp. Trong khi đó, kim ngạch nhập khẩu nguyên phụ liệu đầu vào chính cũng tăng thấp như: mặt hàng vải chỉ tăng 17%; sợi tăng 4%.
theo dõi trên đồ thị, tốc độ tăng kim ngạch nhập khẩu bao giờ cũng cao hơn tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu hàng năm và chí ít cũng phải xấp xỉ như năm ngoái. Sang năm 2009, nhiều khả năng xuất khẩu hàng dệt may của nước ta sẽ gặp nhiều khó khăn hơn bởi: - Kinh tế thế giới vẫn chưa thoát khỏi suy thoái. - Hàng dệt may của Trung Quốc xuất khẩu vào thị trường Mỹ không cần hạn ngạch. - Mức độ cạnh tranh với các thị trường khác sẽ gay gắt hơn, do hội nhập càng sâu và rộng.
- Xuất khẩu vào thị trường Mỹ vẫn còn những rào cản. 4 123doc Được biết, trong chuyến thăm và làm việc tại Hà Nội, Đoàn Thương mại Mỹ đã thông báo về việc sẽ không mở rộng chương trình giám sát đối với hàng dệt may nhập khẩu từ Việt Nam. Theo đó, chương trình này sẽ kết thúc vào cuối năm 2008. Mặc dù vậy, điều này cũng không có nghĩa là từ năm 2009, xuất khẩu hàng dệt may của nước ta sang thị trường Mỹ sẽ không còn gặp bất kỳ một rào cản thương mại nào.
Bởi vì: + Chương trình giám sát hàng dệt may nhập khẩu từ Việt Nam của Mỹ dưới thời chính quyền của Tổng Thống Bush và nhiệm kỳ Tổng thống sẽ kết thúc vào tháng 1/2009. Do đó, chương trình này không được mở rộng cũng là điều dễ hiểu. + Năm 2009, Tổng thống Mỹ mới nhận chức, và chưa chắc chính quyền của Tổng thống mới kế thừa quyết định của Chính quyền Bush. Và Tổng thống mới chắc chắn sẽ thực hiện quyết định của Quốc hội Mỹ – bảo vệ quyền lợi của các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp trong Hiệp hội Dệt Mỹ.
+ Chắc chắn hàng dệt may xuất khẩu của Trung Quốc sang thị trường Mỹ sẽ gặp phải những rào cản thương mại khi chế độ hạn ngạch được dỡ bỏ vào cuối năm nay. Điều này sẽ khiến cho hàng dệt may Việt Nam rất dễ rơi vào “tầm ngắm” cùng với hàng Trung Quốc. Do đó, trong việc ký kết các hợp đồng xuất khẩu sang thị trường Mỹ cho năm 2009, doanh nghiệp nên chủ động đàm phán với các đối tác để nâng giá xuất khẩu, tránh những thiệt hại của giá thấp gây ra. Cùng với đó là hoàn thiện công tác lưu trữ, cũng như việc khai báo hải quan rõ ràng chính xác, tạo điều kiện cho các cơ quan quản lý trong việc thống kê, phục vụ thông tin định hướng và quản lý nhà nước, giúp các doanh nghiệp hoạt động một cách hiệu quả nhất.
NHỮNG TÁC ĐỘNG CỦA MÔI TRƯỜNG ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN NGÀNH DỆT MAY VIỆT NAM. Nghiên cứu môi trường tác động đến sự phát triển của doanh nghiệp là một nội dung quan trọng không thể thiếu được trong quá trình phân tích. Chỉ có thông qua nghiên cứu, phân tích cặn kẽ mọi diễn biến của môi trường một cách thường xuyên, liên tục mới giúp nhà quản trị xây dựng được những chiến lược thành công. Môi trường ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp bao gồm môi trường bên ngoài và môi trường bên trong doanh nghiệp.
Môi trường bên ngoài: Đó là tập hợp tất cả các phần tử nằm ngoài doanh nghiệp và có tác động, ảnh hưởng đến doanh nghiệp. Người ta chia môi trường bên ngoài doanh nghiệp thành hai loại: Thứ nhất là: Môi trường vĩ mô hay còn được gọi là môi trường tổng quát là môi trường bao trùm lên hoạt động động của tất cả các tổ chức, có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến các hoạt động của tất cả các tổ chức. Các thành phần chủ yếu của môi trường vĩ mô bao gồm: - Các yếu tố về kinh tế: bao gồm các yếu tố như: tốc độ tăng trưởng kinh tế, mức độ lạm phát, khả năng huy động vốn, thu nhập bình quân, các chính sách thuế, tài chính… của quốc gia hay khu vực có ảnh hưởng đến hoạt động của các doanh nghiệp. - Các yếu tố về chính trị, chính phủ và luật pháp: bao gồm hệ thống các quan điểm, đường lối chính sách của chính phủ, hệ thống pháp luật hiện hành, các xu hướng chính trị, những diễn biến chính trị… Các yếu tố này có ảnh hưởng ngày càng lớn đến hoạt động của các doanh nghiệp.
- Các yếu tố tự nhiên: các điều kiện tự nhiên luôn là một yếu tố quan trọng trong hoạt động mọi mặt của con người. Đồng thời nó là yếu tố đầu vào rất quan trọng cho nhiều ngành kinh doanh. Tuy vậy, nếu không biết quan tâm tái tạo môi trường, doanh nghiệp cũng như xã hội sẽ phải gánh chịu ngay những hậu quả nặng nề mà không cần chờ đến các thế hệ kế tiếp. - Các yếu tố về văn hóa xã hội: bao gồm một hệ thống những chuẩn mực và giá trị được chấp nhận và tôn trọng bởi một xã hội hoặc một nền văn hóa cụ thể.
Các yếu tố xã hội có tác động chậm nhưng lâu dài và có hệ quả rất sâu rộng lên mọi mặt hoạt động của doanh nghiệp. - Các yếu tố về kỹ thuật và công nghệ: đây là một yếu tố rất năng động, chứa đựng nhiều cơ hội và đe dọa đối với các doanh nghiệp. Chắc chắn sẽ có nhiều công nghệ tiên tiến tiếp tục ra đời, tạo nên các cơ hội cũng như nguy cơ đối với tất cả các ngành công nghiệp và các doanh nghiệp. Mỗi yếu tố của môi trường vĩ mô nói trên có thể ảnh hưởng đến tổ chức một cách độc lập hoặc trong mối liên kết với các yếu tố khác.
Thứ hai là: Môi trường vi mô hay còn gọi là môi trường ngành, bao gồm các yếu tố ngoại cảnh đối với doanh nghiệp, quyết định tính chất và mức độ cạnh tranh trong 6 123doc ngành kinh doanh đó. Theo quan điểm quản trị chiến lược của Michael Porter, giáo sư Trường kinh doanh Harvard của Mỹ, phân tích rằng: đối với mỗi ngành, dù là trong hay ngoài nước, năng lực cạnh tranh chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố thể hiện qua mô hình sau: Hình 1. Mô hình 5 áp lực cạnh tranh Các đối thủ mới tiềm ẩn Nguy cơ có các đối thủ cạnh tranh mới Khả năng thương Các đối thủ cạnh Khả năng lượng của người tranh trong ngành thương lượng cung cấp của người mua Người cung cấp Sự tranh đua giữa Người mua các doanh nghiệp hiện có mặt trong ngành Nguy cơ do các sản phẩm và dịch vụ thay thế Sản phẩm thay thế (Nguồn: Chiến lược cạnh tranh, Michael E. Porter, năm 1996) Mô hình này đã thể hiện một cách rõ nét năm nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh như sau: - Một là, người cung ứng: Người cung ứng có thể khẳng định quyền lực của mình đối với các thành viên trong cuộc thương lượng bằng cách đe dọa tăng giá hoặc giảm chất lượng hàng hóa dịch vụ đã mua.