Tổng quan nghiên cứu

Trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng, chất lượng nguồn nhân lực có kỹ năng nghề cao giữ vai trò là một trong ba trụ cột tăng trưởng then chốt, bên cạnh việc áp dụng công nghệ mới và hoàn thiện hạ tầng cơ sở hiện đại. Tỉnh Quảng Ninh là đầu tàu kinh tế của vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc, ghi nhận tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2017 đạt 10,2%, thu nhập bình quân đầu người đạt 4.528 USD (cao gấp gần 2 lần so với mức bình quân chung của cả nước) và tổng thu ngân sách nhà nước ước đạt trên 37.600 tỷ đồng. Mặc dù địa phương sở hữu 39 cơ sở đào tạo nghề nghiệp (bao gồm 32 cơ sở công lập và 7 cơ sở thuộc khối doanh nghiệp), công tác giáo dục nghề nghiệp tại tỉnh vẫn bộc lộ nhiều điểm nghẽn nghiêm trọng.

Vấn đề cốt lõi được đặt ra là tình trạng "thừa thầy, thiếu thợ" kéo dài do tâm lý xã hội chuộng bằng cấp đại học, dẫn đến việc các cơ sở dạy nghề gặp nhiều khó khăn trong khâu tuyển sinh. Bên cạnh đó, chất lượng đào tạo chưa đồng đều, trang thiết bị thực hành còn thiếu tính hiện đại và mức độ liên kết với thị trường lao động chưa thực sự chặt chẽ, khiến học sinh - sinh viên sau khi tốt nghiệp gặp khó khăn trong việc tìm kiếm việc làm phù hợp.

Mục tiêu nghiên cứu của luận văn là hệ thống hóa các vấn đề lý luận, phân tích toàn diện thực trạng phát triển đào tạo nghề trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2015 - 2017, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ và khả thi nhằm phát triển quy mô, nâng cao chất lượng đào tạo nghề đến năm 2020. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc hỗ trợ các nhà quản trị giáo dục nghề nghiệp và cơ quan quản lý nhà nước tối ưu hóa phân bổ nguồn vốn đầu tư phát triển (vốn chiếm 56,67% tổng chi ngân sách tỉnh năm 2017), đáp ứng kịp thời nhu cầu nhân lực kỹ thuật cho các khu công nghiệp, khu kinh tế và định hướng chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ "nâu" sang "xanh".

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên Lý thuyết vốn con người (Human Capital Theory) và Lý thuyết tăng trưởng kinh tế nội sinh, khẳng định tri thức, kỹ năng và thái độ của người lao động là tài sản vô hình tạo ra năng suất vượt trội. Luận văn vận dụng mô hình đào tạo theo nhu cầu xã hội kết hợp với hệ thống tiêu chuẩn kiểm định chất lượng giáo dục nghề nghiệp ban hành kèm theo Thông tư 15/2017/TT-BLĐTBXH, bao gồm 8 tiêu chí kiểm định toàn diện: (1) Mục tiêu, sứ mạng, tổ chức và quản lý; (2) Hoạt động đào tạo; (3) Nhà giáo, cán bộ quản lý, viên chức; (4) Chương trình, giáo trình; (5) Cơ sở vật chất, thiết bị đào tạo; (6) Quản lý tài chính; (7) Dịch vụ người học; (8) Giám sát, đánh giá chất lượng.

Bên cạnh đó, nghiên cứu hệ thống hóa các khái niệm cốt lõi:

  • Đào tạo nghề: Quá trình hoạt động có mục đích nhằm truyền đạt kiến thức, rèn luyện kỹ năng và hình thành thái độ nghề nghiệp để người học tìm việc hoặc tự tạo việc làm theo Luật Dạy nghề năm 2006 và Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 2014.
  • Chất lượng đào tạo nghề: Mức độ đáp ứng kép giữa kết quả chuẩn đầu ra của nhà trường (chủ quan) và hiệu quả sử dụng lao động thực tế của doanh nghiệp (khách quan) theo quan điểm của Phan Văn Kha (1999).
  • Phát triển đào tạo nghề: Tiến trình mở rộng về quy mô, hoàn thiện cơ cấu ngành nghề, nâng cao chất lượng và tối ưu hóa phân bố mạng lưới cơ sở đào tạo.
  • Mô hình đào tạo kép (Dual System): Mô hình kết hợp chặt chẽ giữa học lý thuyết tại trường và thực hành tại doanh nghiệp (tỷ lệ 70% thời lượng thực hành) dựa trên bài học thành công từ Đức và Na Uy.

Phương pháp nghiên cứu

Luận văn kết hợp chặt chẽ giữa nguồn dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp trong giai đoạn 2015 - 2017:

  • Nguồn dữ liệu thứ cấp: Thu thập từ Niên giám thống kê tỉnh Quảng Ninh (năm 2016, 2017), các báo cáo tổng kết của Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Quảng Ninh và tài liệu quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội địa phương.
  • Nguồn dữ liệu sơ cấp và Phương pháp chọn mẫu: Nghiên cứu tiến hành khảo sát tại 3 cơ sở đào tạo nghề đại diện cho 3 trung tâm đô thị công nghiệp lớn của tỉnh, bao gồm: Trường Cao đẳng Y tế Quảng Ninh (TP. Hạ Long), Trường Cao đẳng Nghề Xây dựng (TP. Uông Bí), và Trường Cao đẳng Công nghiệp Cẩm Phả (TP. Cẩm Phả). Tổng thể nghiên cứu tại 3 đơn vị này gồm 442 học viên và 116 cán bộ, giảng viên. Áp dụng công thức chọn mẫu xác suất Slovin với sai số cho phép e = 5%, cỡ mẫu nghiên cứu được xác định chính xác gồm 210 học viên (mỗi trường 70 người) và 90 cán bộ viên chức, giáo viên (mỗi trường 30 người), đạt tổng quy mô 300 phiếu khảo sát hợp lệ.
  • Lý do lựa chọn phương pháp phân tích: Luận văn sử dụng phương pháp thống kê mô tả, kỹ thuật so sánh số tuyệt đối và so sánh số tương đối (%) trên phần mềm Excel, kết hợp phương pháp tham vấn chuyên gia. Việc lựa chọn phương pháp này giúp lượng hóa chính xác các biến động về quy mô tuyển sinh, chi phí đào tạo, đồng thời đánh giá khách quan mức độ hài lòng của người học và cán bộ quản lý đối với chất lượng đào tạo, cung cấp luận cứ khoa học vững chắc cho các đề xuất chính sách.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phân tích thực trạng đào tạo nghề tại tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2015 - 2017 đưa ra 4 phát hiện quan trọng:

Thứ nhất, mạng lưới cơ sở giáo dục nghề nghiệp phân bố không đồng đều về mặt địa lý. Toàn tỉnh có 39 cơ sở đào tạo nghề nghiệp, nhưng có tới 14 cơ sở tập trung tại TP. Hạ Long (chiếm 35,9%), 5 cơ sở tại TP. Uông Bí, 4 cơ sở tại TP. Cẩm Phả. Trong khi đó, toàn bộ 11 huyện, thị xã còn lại chỉ có 16 cơ sở, tạo ra sự chênh lệch lớn trong việc tiếp cận cơ hội học nghề giữa khu vực đô thị và khu vực miền núi, hải đảo.

Thứ hai, cơ cấu trình độ đào tạo bị mất cân đối nghiêm trọng. Tỷ lệ tuyển sinh các lớp sơ cấp nghề và đào tạo thường xuyên dưới 3 tháng chiếm tỷ trọng áp đảo trên 70% tổng chỉ tiêu tuyển sinh toàn tỉnh. Ngược lại, quy mô đào tạo trình độ cao đẳng nghề và trung cấp nghề kỹ thuật cao chỉ chiếm chưa đầy 30%, chưa đáp ứng được nhu cầu nhân lực chất lượng cao cho các khu công nghiệp trọng điểm như Khu công nghiệp Cái Lân (245 ha) hay Khu công nghiệp Đông Triều (150 ha).

Thứ ba, cơ sở vật chất và trang thiết bị thực hành chưa theo kịp công nghệ sản xuất hiện đại. Kết quả khảo sát 300 đối tượng cho thấy chỉ có khoảng 62% học viên và 65% cán bộ giảng viên đánh giá tốt về mức độ đáp ứng của trang thiết bị thực hành so với yêu cầu công việc tại các doanh nghiệp. Tỷ lệ kinh phí chi cho mua sắm vật tư thực hành và nâng cấp xưởng nghề còn hạn chế so với tổng chi ngân sách đào tạo hằng năm.

Thứ tư, danh mục ngành nghề đào tạo chuyển dịch chậm hơn tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Năm 2017, khu vực dịch vụ của tỉnh tăng trưởng mạnh 14,5% với giá trị tăng thêm đạt 27.610 tỷ đồng và đón gần 10 triệu lượt khách du lịch, song các ngành đào tạo nghề dịch vụ, du lịch chất lượng cao và logistics chỉ chiếm tỷ trọng dưới 25% trong tổng cơ cấu ngành nghề được cấp phép đào tạo.

Để giúp người đọc dễ dàng theo dõi và so sánh, các tập dữ liệu này có thể được trình bày một cách trực quan qua biểu đồ cơ cấu phân bố mạng lưới cơ sở đào tạo và bảng tổng hợp so sánh mức độ hài lòng của người học theo từng tiêu chí kiểm định.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân chính của các hạn chế trên xuất phát từ sự kết hợp của nhiều nhân tố chủ quan và khách quan:

  • Về mặt nhận thức: Tâm lý chuộng bằng cấp cử nhân khiến công tác phân luồng học sinh sau tốt nghiệp tại 59 trường trung học phổ thông trên địa bàn tỉnh gặp nhiều trở ngại, khiến quy mô tuyển sinh trường nghề luôn đạt thấp so với năng lực thiết kế.
  • Về cơ chế liên kết: Mô hình hợp tác ba bên giữa Nhà nước, Nhà trường và Doanh nghiệp chưa được thể chế hóa mạnh mẽ. Doanh nghiệp tại các khu công nghiệp chưa tham gia sâu vào khâu biên soạn giáo trình và hỗ trợ giảng viên thực tế.

Khi so sánh với kinh nghiệm thực tiễn từ Trường Cao đẳng nghề Thừa Thiên Huế (nơi đạt tỷ lệ trên 80% sinh viên tốt nghiệp có việc làm đúng ngành nhờ dành 70% thời lượng cho thực hành tại các khu kinh tế) và thành phố Đà Nẵng (nơi đào tạo nghề miễn phí cho 187.189 lượt người lao động giai đoạn 2006 - 2010), tỉnh Quảng Ninh cần khẩn trương tái cấu trúc chương trình đào tạo, đẩy mạnh xã hội hóa nhằm tạo động lực then chốt cho tăng trưởng kinh tế bền vững.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm phát triển đào tạo nghề trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh vững mạnh cả về quy mô lẫn chất lượng, tác giả đề xuất 5 nhóm giải pháp trọng tâm:

  1. Đẩy mạnh công tác phân luồng, tuyên truyền và tư vấn hướng nghiệp: Sở Giáo dục và Đào tạo phối hợp cùng Sở Lao động - Thương binh và Xã hội triển khai định hướng nghề nghiệp trực tiếp tại 100% trường trung học cơ sở và trung học phổ thông. Đặt mục tiêu nâng tỷ lệ học sinh sau tốt nghiệp tham gia học nghề lên mức 30 - 35% trong giai đoạn 2019 - 2022.

  2. Hiện đại hóa cơ sở vật chất và chuẩn hóa thiết bị xưởng thực hành: Ủy ban nhân dân tỉnh cần ưu tiên trích tối thiểu 10 - 15% nguồn chi ngân sách đầu tư phát triển hằng năm để hỗ trợ các trường nghề công lập nâng cấp phòng học, xưởng công nghệ cao. Phấn đấu đến năm 2020, 100% cơ sở đào tạo trọng điểm bảo đảm diện tích phòng học và xưởng thực hành đạt chuẩn quốc gia.

  3. Đổi mới chương trình, giáo trình và nâng cao năng lực đội ngũ giảng viên: Các cơ sở giáo dục nghề nghiệp định kỳ từ 3 đến 5 năm tiến hành rà soát, điều chỉnh chương trình đào tạo theo hướng thực hành chiếm tối thiểu 65 - 70% thời lượng. Tổ chức bồi dưỡng kỹ năng nghề thực tế tại doanh nghiệp cho 100% giáo viên giảng dạy chuyên ngành trước năm 2021.

  4. Tăng cường liên kết đào tạo theo đơn đặt hàng của doanh nghiệp: Ký kết thỏa thuận hợp tác chiến lược giữa 39 cơ sở giáo dục nghề nghiệp với ban quản lý 6 khu công nghiệp lớn (Cái Lân, Việt Hưng, Hải Yên, Đông Triều, Phương Nam, Mông Dương). Cam kết mục tiêu tỷ lệ học viên ra trường có việc làm ngay đạt trên 85% vào năm 2020.

  5. Hoàn thiện cơ chế, chính sách hỗ trợ tài chính và xã hội hóa: Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh cần ban hành chính sách miễn giảm học phí, hỗ trợ chi phí ăn ở cho học viên là con em đồng bào dân tộc thiểu số tại các huyện Bình Liêu, Ba Chẽ, đồng thời cấp ưu đãi thuế đất cho 7 cơ sở đào tạo nghề thuộc khối doanh nghiệp giai đoạn 2019 - 2025.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn là công trình nghiên cứu ứng dụng có giá trị thực tiễn sâu sắc, phù hợp cho 4 nhóm đối tượng chính sau:

  1. Cơ quan quản lý nhà nước (Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Quảng Ninh): Sử dụng tài liệu này như một cơ sở dữ liệu khoa học để hoạch định quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục nghề nghiệp, xây dựng chính sách phân luồng học sinh và ban hành các gói kích cầu nhân lực chất lượng cao giai đoạn 2020 - 2030.

  2. Ban Giám hiệu và cán bộ quản lý các cơ sở giáo dục nghề nghiệp: Tham khảo khung đánh giá 8 tiêu chí kiểm định chất lượng, phương thức đổi mới chương trình và phương pháp tăng tỷ lệ thực hành lên 70% nhằm gia tăng sức hút tuyển sinh và nâng cao năng lực cạnh tranh thương hiệu đào tạo.

  3. Doanh nghiệp và Hiệp hội doanh nghiệp tại các khu công nghiệp, khu kinh tế: Khai thác mô hình hợp tác đào tạo ba bên để chủ động đặt hàng nhân lực theo yêu cầu kỹ thuật, tham gia biên soạn giáo trình và tiếp nhận nguồn lao động kỹ thuật cao đã qua đào tạo thực chất.

  4. Giảng viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Quản lý kinh tế: Tiếp cận một case study hoàn chỉnh về quản lý phát triển đào tạo nghề cấp tỉnh, học hỏi phương pháp chọn mẫu xác suất Slovin và quy trình xử lý dữ liệu khảo sát thực tế.

Câu hỏi thường gặp

Nguyên nhân cốt lõi dẫn đến tình trạng "thừa thầy, thiếu thợ" tại Quảng Ninh là gì? Tình trạng này bắt nguồn từ tâm lý chuộng bằng cấp đại học của các gia đình, trong khi công tác tư vấn phân luồng tại 59 trường trung học phổ thông chưa đủ sâu sát. Hậu quả là người học đổ xô thi đại học, khiến 39 cơ sở đào tạo nghề trên địa bàn tỉnh luôn đối mặt với tình trạng thiếu hụt chỉ tiêu tuyển sinh đầu vào hằng năm.

Cỡ mẫu 300 phiếu khảo sát trong luận văn được tính toán dựa trên cơ sở khoa học nào? Tác giả áp dụng công thức chọn mẫu Slovin với sai số e = 5% trên tổng thể 442 học viên và 116 cán bộ tại 3 trường cao đẳng đại diện cho 3 thành phố lớn (Hạ Long, Uông Bí, Cẩm Phả). Kết quả xác định cỡ mẫu chuẩn xác gồm 210 học viên và 90 cán bộ, bảo đảm độ tin cậy thống kê cao.

Kinh nghiệm quốc tế và các địa phương khác có thể áp dụng ra sao tại Quảng Ninh? Quảng Ninh có thể áp dụng mô hình đào tạo kép của Đức và bài học của Thừa Thiên Huế, trong đó dành 70% thời lượng khóa học cho thực hành tại nhà xưởng doanh nghiệp. Mô hình này đã giúp Thừa Thiên Huế đạt trên 80% sinh viên có việc làm ngay sau khi tốt nghiệp.

Vì sao tỉnh Quảng Ninh cần chuyển hướng mạnh sang đào tạo nghề du lịch và dịch vụ? Năm 2017, khu vực dịch vụ của tỉnh đạt giá trị 27.610 tỷ đồng (tăng 14,5%), đón gần 10 triệu lượt du khách và đóng góp 41,2% cơ cấu kinh tế. Để đáp ứng chiến lược chuyển đổi mô hình từ "nâu" sang "xanh", việc đào tạo nguồn nhân lực du lịch, dịch vụ tiêu chuẩn cao là yêu cầu cấp thiết.

Giải pháp nào mang tính đột phá nhất để nâng cao chất lượng trường nghề tại địa phương? Giải pháp đột phá là gắn kết đào tạo trực tiếp với 6 khu công nghiệp lớn (như Cái Lân 245 ha, Đông Triều 150 ha). Việc doanh nghiệp tham gia giảng dạy và cam kết tuyển dụng sẽ giải quyết triệt để bài toán việc làm và nâng tỷ lệ tuyển sinh cho các trường nghề.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về quản lý và phát triển đào tạo nghề, khẳng định vai trò quyết định của nhân lực kỹ thuật đối với tốc độ tăng trưởng kinh tế 10,2% của tỉnh Quảng Ninh.
  • Khảo sát thực chứng với cỡ mẫu chuẩn 300 đối tượng tại 3 trường cao đẳng trọng điểm đã phản ánh chân thực các rào cản về cơ sở vật chất, cơ cấu phân bố mạng lưới và sự thiếu hụt gắn kết doanh nghiệp.
  • Đề xuất hệ thống 5 nhóm giải pháp mang tính hành động cao, tập trung chuẩn hóa chương trình học với 70% thực hành và thiết lập liên minh đào tạo với 6 khu công nghiệp lớn.
  • Lộ trình thực hiện giải pháp được phân kỳ chi tiết trong giai đoạn 2019 - 2022, hướng tới mục tiêu nâng tỷ lệ học viên có việc làm sau tốt nghiệp đạt trên 85% vào năm 2020.
  • Các nhà quản lý giáo dục nghề nghiệp và cơ quan chức năng cần nhanh chóng triển khai đồng bộ các khuyến nghị của luận văn nhằm tạo bước đột phá vững chắc cho nguồn nhân lực của tỉnh Quảng Ninh trong tương lai.