Chương 1: Cơ sở lý luận về văn hóa doanh nghiệp. Chương 2: Thực trạng văn hóa doanh nghiệp tại Qũy trợ vốn CEP. Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện văn hóa doanh nghiệp tại Qũy trợ vốn CEP. Tài liệu tham khảo.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 Chư ng 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VĂN HÓA DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm chung về văn hóa 1. Khái niệm về văn hóa Văn hóa là một khái niệm có lịch sử lâu dài và thăng trầm.
Nó được sử dụng bởi người bình thường như một từ để diễn đạt sự tinh tế, như khi ta nói một người nào đó là rất “có văn hóa”. Nó được sử dụng bởi những nhà nhân chủng học khi đề cập đến các phong tục và nghi lễ được các xã hội phát triển trong suốt quá trình lịch sử của họ. Bản thân vấn đề văn hóa rất phức tạp, đa dạng, nó là một khái niệm có nhiều nghĩa, tính chất và hình thức biểu hiện. Do đó, khi có những tiếp cận nghiên cứu khác nhau sẽ dẫn đến có nhiều quan niệm xung quanh nội dung thuật ngữ văn hóa, chúng ta quan tâm tới nghĩa gốc của từ: Tại phương Tây, văn hóa – culture (trong tiếng Anh, tiếng Pháp) hay kultur (tiếng Đức) xuất xứ từ chữ Latinh là cultus có nghĩa là khai hoang trồng trọt, trông nom cây lương thực, nói ngắn gọn là sự vun trồng.
Sau đó từ cultus được mở rộng nghĩa, dùng trong lĩnh vực xã hội chỉ sự vun trồng, giáo dục, đào tạo và phát triển mọi khả năng của con người. Ở Phương Đông, trong tiếng Hán cổ, từ văn hóa bao hàm ý nghĩa văn là vẻ đẹp của nhân tính, cái đẹp của tri thức, trí tuệ con người có thể đạt được bằng sự tu dưỡng của bản thân và cách thức cai trị đúng đắn của nhà cầm quyền. Còn chữ hóa trong văn hóa là việc đem cái văn (cái đẹp, cái tốt, cái đúng) để cảm hóa, giáo dục và hiện thực hóa trong thực tiễn đời sống. Vậy văn hóa chính là nhân hóa hay nhân văn hóa.
Như vậy, văn hóa trong từ nguyên của cả phương Đông và phương Tây đều có một nghĩa chung căn bản là sự giáo hóa, vun trồng nhân cách con người (bao gồm cá nhân, cộng đồng và xã hội loài người), cũng có nghĩa là làm cho con người và cuộc sống tốt đẹp hơn. Xuất phát từ ý nghĩa gốc của văn hóa, trong khoảng một thập niên vừa qua, khái LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 niệm văn hóa được sử dụng bởi các nhà nghiên cứu và quản trị tổ chức, để đề cập về môi trường và các thực tiễn mà các tổ chức phát triển xung quanh việc đối xử với con người, hoặc đề cập đến những giá trị được tán đồng và niềm tin của một tổ chức. Ta quan tâm tới một khái niệm văn hóa mới được đề cập: “Một dạng thức các quan niệm cơ bản cùng chia sẻ mà nhóm học hỏi được, khi nó giải quyết những vấn đề liên quan đến việc thích nghi với môi trường bên ngoài và sự hợp nhất bên trong. Dạng thức này hiệu quả đủ tốt để được xem là có giá trị, và do đó được truyền dạy cho các thành viên mới như cách thức đúng đắn để nhận thức tư duy và cảm nhận liên quan tới vấn đề đó” (Nguyễn Văn Dung và cộng sự, 2010, trang 20).
Định nghĩa trên về văn hóa mang hàm ý nghĩa hẹp giữa việc liên kết giữa văn hóa vào văn hóa doanh nghiệp, của nhóm hay tổ chức. Nó là tiền đề cho việc đề cập tới văn hóa doanh nghiệp ở những phần tiếp theo. Khái niệm về VHDN Văn hóa kinh doanh hiểu theo nghĩa rộng và văn hóa doanh nghiệp hiểu theo nghĩa hẹp là một khái niệm đã có từ lâu trên thế giới, song nó là một khái niệm mới (một cách tương đối) và mở ở Việt Nam. Cuộc sống cũng như công việc kinh doanh không ngừng vận động, chắc chắn sẽ còn nhiều chuẩn mực khác để đánh giá văn hóa kinh doanh nữa mà từ góc độ của bản thân, mỗi cá thể sẽ bổ sung thêm khi đặt mình vào công việc của một doanh nhân đang kinh doanh một cách có văn hóa.
Trong kinh doanh, văn hóa tham gia vào hầu hết các hoạt động của doanh nghiệp từ tổ chức đến các hoạt động chức năng của doanh nghiệp, cách bố trí tổ chức nhân sự đến hình thành quan hệ giao tiếp ứng xử giữa các thành viên trong tổ chức và các phương thức quản lý kinh doanh để tạo hiệu quả cao nhất cho hoạt động của doanh nghiệp. Nhìn từ góc độ nghệ thuật kinh doanh, từ vấn đề tạo vốn ban đầu, tìm địa bàn kinh doanh, mặt hàng kinh doanh, cách thức tổ chức thực hiện chiến lược kinh doanh, tiếp thị sản phẩm, dịch vụ hậu mãi và bảo hành sau bán hàng một cách hiệu quả đã được thể hiện với những giá trị tốt đẹp của chính mỗi hoạt động, do vậy kinh doanh LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 chính là biểu hiện tốt đẹp văn hóa của con người. Do đó, bản chất của văn hóa kinh doanh là làm cho cái lợi gắn bó chặt chẽ với cái đúng, cái tốt đẹp và cái đẹp. Từ đó có thể đưa ra định nghĩa về văn hóa doanh nghiệp: “VHDN là một hệ thống các ý nghĩa, giá trị, niềm tin chủ đạo, cách nhận thức và phương pháp tư duy được mọi thành viên trong DN cùng đồng thuận và có ảnh hưởng ở phạm vi rộng đến cách thức hành động của từng thành viên trong hoạt động kinh doanh, tạo nên bản sắc kinh doanh của doanh nghiệp đó” (Đỗ Thị Phi Hoài và cộng sự, 2009, trang 19).
Hoặc: “Văn hóa tổ chức là hệ thống các giá trị hữu hình và vô hình, thể hiện qua hệ thống tri thức tích lũy, các quan điểm, các niềm tin, các nguyên tắc kinh doanh, các truyền thống, các phương pháp hoạt động, các hành vi ứng xử trong giao tiếp đối nội và đối ngoại, các kết quả hoạt động của tổ chức trong từng kỳ” (Phạm Thị Thu Hương và cộng sự, 2009, trang 17). Khi nghiên cứu văn hóa doanh nghiệp nói riêng và văn hóa nói chung, các nhà nghiên cứu nhận thấy yếu tố quan trọng này có những đặc trưng tiêu biểu như sau: - Tính hệ thống: văn hóa doanh nghiệp là một thực thể có tính hệ thống, bao gồm các yếu tố hữu hình và vô hình đan xen vào nhau và cùng tác động đến suy nghĩ, thái độ và hành vi của mỗi thành viên trong tổ chức. Con người nhận diện, phân tích và đánh giá được các mức giá trị văn hóa tổ chức thông qua các giác quan, trong đó kênh tri giác có vai trò đánh giá các mối quan hệ giao tiếp trong ứng xử như: ứng xử giữa con người với con người trong tiến trình thực hiện các công việc được phân công, ứng xử khi thực hiện công việc cụ thể, ứng xử với môi trường xã hội hay môi trường hoạt động, giữa con người với thiên nhiên hay môi trường sống của mình. Nhờ có tính hệ thống, con người nói chung và mỗi thành viên trong tổ chức nói riêng có cơ sở để hiểu biết chính bản thân mình và hiểu biết người khác trong mối quan hệ giao tiếp đối nội và đối ngoại.
Vì vậy, văn hóa doanh nghiệp được xem là nền tảng quan trọng có chức năng cần thiết về mặt tinh thần để các thành viên trong từng tổ chức có khả năng đối LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 phó hay thích nghi với môi trường kinh doanh phức tạp và biến động liên tục. - Tính giá trị: văn hóa doanh nghiệp còn có tính giá trị, giúp con người nhận diện và đánh giá hiện trạng văn hóa tổ chức theo thời gian. Nói một cách khác, tính giá trị của văn hóa tổ chức là cơ sở để nhà quản lý cấp cao, những người có trách nhiệm có thể đo lường tính nhân bản của doanh nghiệp và dự báo các xu hướng phát triển của tổ chức trong tương lai để luôn có giải pháp mới nhằm nâng cao liên tục giá trị văn hóa theo thời gian. - Tính nhân sinh: văn hóa doanh nghiệp do con người hay các thành viên trong doanh nghiệp tạo ra, đặc biệt là vai trò của những người sáng lập doanh nghiệp hay những nhà đầu tư và những nhà quản trị cấp cao.
Trong đó, các thành viên của doanh nghiệp tác động vào các yếu tố tự nhiên hữu hình hoặc vô hình tạo ra các giá trị của văn hóa tổ chức. Chẳng hạn, nhà quản trị cấp cao căn cứ vào các quy luật tự nhiên, xã hội như quy luật mâu thuẫn, quy luật nhân quả, v. để đề xuất triết lý hay quan điểm kinh doanh, hình thành các quy tắc đạo đức để hướng dẫn tư duy và hành động của các thành viên trong tổ chức, hoặc quyết định lựa chọn nguồn nguyên liệu, máy móc thiết bị và yếu tố đầu vào khác, v. thích nghi với chiến lược cạnh tranh để chế tạo các sản phẩm có chất lượng cao, có đặc trưng nổi bật (sản phẩm là biểu tượng văn hóa của doanh nghiệp) để cung cấp cho khách hàng, đáp ứng tốt các nhu cầu của khách hàng.
Văn hóa doanh nghiệp có tính nhân sinh, vì vậy trong thực tế, chất lượng nguồn nhân lực giữa các doanh nghiệp không giống nhau nên giá trị văn hóa doanh nghiệp này có những khác biệt với giá trị văn hóa của doanh nghiệp khác. Theo thời gian, giá trị văn hóa doanh nghiệp sẽ biến đổi cả lượng lẫn chất phù hợp với sự nâng cao giá trị văn hóa của các thành viên trong tổ chức. - Tính lịch sử: văn hóa doanh nghiệp có quá trình phát sinh, phát triển và tồn tại riêng. Tùy theo đặc điểm lịch sử phát triển cụ thể của mỗi tổ chức ờ từng quốc gia, tùy theo mối quan tâm về sự tồn tại và phát triển tổ chức của các nhà đầu tư hay người sáng lập, quan điểm kinh doanh cụ thể của các nhà quản trị cấp cao.
Tuy nhiên, vì các LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 giá trị văn hóa của tổ chức thể hiện thông qua con người nên sự phát sinh và phát triển này rất phức tạp, đầy mâu thuẫn và mất nhiều thời gian. Do đó, các nhà quản trị có trách nhiệm không thể quyết định sự biến đổi văn hóa doanh nghiệp thấp thành giá trị văn hóa doanh nghiệp có giá trị cao ngay tức khắc, hoặc họ cũng không thể xóa bỏ ngay những suy nghĩ và hành động hiện tại của các thành viên theo ý muốn chủ quan của mình.