Chương 1: Tổng quan lý luận về trách nhiệm xã hội, tác động của trách nhiệm xã hội đến ý định mua hàng và các nghiên cứu có liên quan. Trong phần này, luận văn hệ thống hóa các cơ sở lý luận về trách nhiệm xã hội, dựa trên kết quả của các nhà nghiên cứu. Nội dung chƣơng bao gồm khái niệm trách nhiệm xã hội, tác động của trách nhiệm xã hội đến ý định mua hàng và các nghiên cứu khác có liên quan. Chương 2: Thực trạng trách nhiệm xã hội của Công ty cổ phần Vàng bạc đá quý Phú Nhuận (PNJ) Dựa trên lý thuyết Mô hình Kim tự tháp CSR của Carroll (1991), chƣơng hai tập trung phân tích thực trạng thực hiện trách nhiệm xã hội của Công ty PNJ, cụ thể trên bốn khía cạnh: trách nhiệm kinh tế, trách nhiệm pháp lý, trách nhiệm đạo đức và trách nhiệm từ thiện.
Chương 3: Giải pháp nâng cao hoạt động trách nhiệm xã hội của Công ty PNJ Trong chƣơng cuối, luận văn đƣa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hoạt động trách nhiệm xã hội của PNJ. 11 Chƣơng 1: TỔNG QUAN LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI, TÁC ĐỘNG TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI ĐẾN Ý ĐỊNH MUA HÀNG VÀ CÁC NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN 1. Lý luận về trách nhiệm xã hội 1. Khái niệm trách nhiệm xã hội 1.
Khái niệm các bên liên quan Từ thời xa xƣa con ngƣời đã biết cách cùng nhau hợp lại, hình thành nên tổ chức để có thể tập trung đƣợc nguồn lực, cùng nhau theo đuổi mục tiêu chung. Trong quá trình theo đuổi mục tiêu, tổ chức thƣờng xuyên tƣơng tác với các yếu tố thuộc môi trƣờng và xã hội. Dựa trên mục tiêu hoạt động mà có thể phân chia tổ chức thành hai loại: tổ chức hoạt động vì lợi nhuận và tổ chức phi lợi nhuận. Mỗi tổ chức thực hiện một vai trò riêng, nhƣng mỗi một vai trò đó lại phụ thuộc vào các yếu tố khác để cung cấp một sự tƣơng hỗ hoàn chỉnh trong quá trình tƣơng tác qua lại của mình.
Chẳng hạn nhƣ các tập đoàn, doanh nghiệp lớn, nổi tiếng phải luôn tƣơng tác không ngừng với chính phủ, công đoàn, nhà cung ứng, khách hàng và các nhóm khác trong cộng đồng theo hƣớng tích cực hoặc tiêu cực. Một số bên sẽ có lợi ích nhiều hơn, một số khác có tƣơng tác trực tiếp hơn, đôi khi có bên sẽ bị thiệt hại do hoạt động của công ty, nhƣng tất cả đều đƣợc kết nối một cách chặt chẽ với những điều mà công ty đang làm. Từ đó đặt ra yêu cầu định nghĩa về các bên liên quan. Các bên liên quan của một công ty bao gồm tất cả những cá nhân, tổ chức liên quan đến sự hoạt động của công ty một cách trực tiếp hoặc gián tiếp.
Trong bối cảnh, các bên liên quan tồn tại cộng sinh với công ty, phạm vi quan tâm của các doanh nghiệp liên quan đến lợi ích của họ dần thay đổi theo thời gian. Điều này phụ thuộc vào các yếu tố nhƣ mức độ tiến bộ kinh tế và xã hội, sự thay đổi về phạm vi 12 quan tâm của các bên liên quan đối với công ty. Nếu trong thế kỷ 19, doanh nghiệp đƣợc xem nhƣ một thực thể pháp lý, tồn tại và hoạt động do các điều lệ của chính phủ, thì đến đầu thế kỷ 20 các công ty tập trung quan tâm vào các quyền của cổ đông. Ngày nay, sự tác động của doanh nghiệp đến xã hội ngày càng đƣợc hiểu rõ, làm cho doanh nghiệp phải nhìn nhận lại các bên liên quan một cách mở rộng hơn, bao gồm các thành phần nhƣ cộng đồng mà trong đó công ty hoạt động và đặc biệt là môi trƣờng tự nhiên.
Trên cơ sở đó, các bên liên quan đƣợc xác định rõ ràng gồm: chủ sở hữu, cổ đông, ngƣời tiêu dùng, nhân viên, nhà cung cấp, đại diện cơ quan chính phủ, đối tác kinh doanh, cộng đồng địa phƣơng và ngƣời giám sát. Thực tế cho thấy, mỗi công ty phải xác định đƣợc các bên liên quan cấu tạo nên môi trƣờng hoạt động của mình và sau đó sắp xếp thứ tự ƣu tiên về tầm quan trọng của các bên này trong chiến lƣợc công ty, lý do là bởi vì các bên liên quan có mối quan tâm khác nhau, lợi ích của họ đôi khi xung đột với nhau, thậm chí đối lập với cả lợi ích của doanh nghiệp. Chẳng hạn nhƣ, đứng trên khía cạnh ngƣời tiêu dùng, khách hàng luôn đƣa ra nhu cầu đƣợc sử dụng sản phẩm với chi phí thấp, trong khi các nhà quản lý môi trƣờng lại gây áp lực, yêu cầu công ty vận hành phƣơng thức sản xuất với chi phí cao nhằm bảo vệ môi trƣờng. Khái niệm trách nhiệm xã hội Trách nhiệm xã hội, tên tiếng anh Corporate Social Responsibility (viết tắt: CSR), là một chủ đề nghiên cứu khá phổ biến trong những thập kỷ trở lại đây, tuy nhiên đến thời điểm hiện tại vẫn chƣa có một khái niệm thống nhất về trách nhiệm xã hội, và cũng còn rất nhiều tranh luận xung quanh vấn đề này.
Theo nghiên cứu của Carroll năm 1999, từ sau những năm 1950, các nghiên cứu về trách nhiệm xã hội đƣợc thực hiện và bổ sung nhiều, không chỉ về mặt lý thuyết mà còn về ứng dụng thực tế. Dựa trên nghiên cứu của Carroll, sự phát triển định nghĩa về CSR có thể đƣợc chia làm 6 giai đoạn quan trọng: Thập kỷ 1950, thập kỷ 1960, thập kỷ 1970, thập kỷ 1980, thập kỷ 1990 và những năm 2000 (theo Lê Thị Thanh Xuân và Gregory Teal, 2011) 13 Giai đoạn những năm 1950 Năm 1953, Bowen đƣợc xem nhƣ ngƣời đƣa ra nghiên cứu về CSR lần đầu tiên, thông qua cuốn sách của mình ―Trách nhiệm xã hội của doanh nhân‖. Ông đề cập đến trách nhiệm xã hội nhƣ là một nghĩa vụ mà các nhà kinh doanh cần theo đuổi trong việc đƣa ra quyết định hoặc thực hiện các chính sách theo mục tiêu và giá trị của xã hội. Giai đoạn những năm 1960 Định nghĩa về CSR trong giai đoạn này có nhiều phát triển mới.
Trách nhiệm xã hội đƣợc định nghĩa bao gồm những lợi ích về dài hạn, sự tuân thủ theo quy định pháp luật, hoạt động tình nguyện và những việc thoát ra ngoài sự trông đợi của xã hội. Giai đoạn những năm 1970 Mặc dù trong khoảng thời gian này không có nhiều định nghĩa mới về CSR, nhƣng Carroll vào năm 1979 đã đƣa ra một khái niệm về trách nhiệm xã hội tƣơng đối hoàn chỉnh mà đến ngày nay vẫn đƣợc nhiều ngƣời sử dụng. Ông cho rằng trách nhiệm xã hội bao gồm các kỳ vọng về kinh tế, pháp lý, đạo đức và từ thiện mà xã hội mong đợi từ doanh nghiệp tại mỗi thời điểm xác định. Giai đoạn những năm 1980 Rất nhiều nghiên cứu trong giai đoạn này không đƣa ra đƣợc khái niệm mới về CSR, nhƣng đã đề cập đƣợc các khía cạnh liên quan đến trách nhiệm xã hội.
Đặc biệt là trách nhiệm xã hội đã đƣợc mở rộng từ việc chỉ làm hài lòng các cổ đông theo quan điểm trƣớc kia, đến việc làm hài lòng cả những cá nhân hoặc tổ chức xã hội có liên quan khác. Giai đoạn những năm 1990 14 Điều đáng lƣu ý nhất trong khoảng thời gian này là CSR đƣợc hiểu nhƣ là các thành tích xã hội mà doanh nghiệp đạt đƣợc, song song với việc thực hiện các trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp. Giai đoạn những năm 2000 Hầu hết các định nghĩa trong giai đoạn này đều liên quan đến các vấn đề đã đƣợc đề cập ở những thập kỷ trƣớc. Bên cạnh đó, yếu tố môi trƣờng bắt đầu đƣợc quan tâm đặc biệt từ những năm 2000 trở đi.
Theo định nghĩa của Liên Hợp Quốc thì trách nhiệm xã hội có thể đƣợc hiểu nhƣ là một khái niệm quản lý và quá trình tích hợp sự quan tâm của xã hội, môi trƣờng vào hoạt động kinh doanh và tƣơng tác của doanh nghiệp với các bên liên quan. Nhƣ vậy, có thể nói trách nhiệm xã hội là một chủ đề rất khó để định nghĩa một cách chính xác bởi vì mỗi một đối tƣợng khác nhau sẽ nhìn nhận trách nhiệm xã hội ở những khía cạnh khác nhau. Mặc dù chƣa thống nhất đƣợc một định nghĩa về CSR nhƣng hầu hết các định nghĩa đều cho rằng doanh nghiệp ngoài việc theo đuổi lợi nhuận, còn phải đáp ứng các kỳ vọng của xã hội khi hoạch định chiến lƣợc kinh doanh của mình. Theo Hopkins (2007) thì CSR sẽ ảnh hƣởng đến các ứng xử của doanh nghiệp một cách có trách nhiệm với các bên liên quan.
Nói cách khác mục đích của trách nhiệm xã hội là tạo ra mức sống ngày càng cao song song với việc duy trì lợi ích công ty và các bên liên quan. Mô hình Kim tự tháp CSR của Carroll (1991) Carroll là một trong những học giả đầu tiên phân biệt sự khác nhau giữa các loại trách nhiệm xã hội của một tổ chức. Theo ông có bốn loại trách nhiệm tạo nên trách nhiệm xã hội của một doanh nghiệp: trách nhiệm kinh tế (economic responsibilities), trách nhiệm pháp lý (legal responsibilities), trách nhiệm đạo đức (ethical responsibilities) và trách nhiệm từ thiện (philanthropic responsibilities). Trong mô hình của Carroll, bốn thành phần trách nhiệm đƣợc thể hiện nhƣ các tầng của một kim tự tháp.
Hầu hết các loại trách nhiệm này đã tồn tại từ rất lâu, tuy nhiên, 15 vai trò của trách nhiệm đạo đức và từ thiện mới đƣợc chú trọng trong những năm gần đây.1: Mô hình Kim tự tháp CSR của Carroll (1991) Nguồn: Nghiên cứu của Carroll năm 1991 1. Trách nhiệm kinh tế Doanh nghiệp đƣợc hình thành với mục đích chính là cung cấp hàng hóa và dịch vụ cho xã hội, cũng nhƣ đóng vai trò là một thực thể kinh tế cơ bản. Hầu hết mọi hoạt động của doanh nghiệp đều xoay quanh việc đạt đƣợc mục tiêu về lợi nhuận. Có thể nói lợi nhuận chính là động cơ để doanh nghiệp sản xuất hàng hóa và dịch vụ cung ứng cho ngƣời tiêu dùng.
Do đó, doanh nghiệp có trách nhiệm kinh tế là tối đa hóa lợi nhuận, nâng cao năng lực cạnh tranh, mang lại hiệu quả kinh tế và phát triển tăng trƣởng là điều kiện tiên quyết bởi mục đích tìm kiếm lợi nhuận ngay 16 từ khi thành lập công ty. Nếu một doanh nghiệp hoạt động nhƣng kinh doanh thua lỗ nghĩa là đã không hoàn thành đƣợc trách nhiệm kinh tế của mình, và trở thành gánh nặng cho toàn xã hội. Chức năng kinh doanh tạo lợi nhuận luôn phải ƣu tiên hàng đầu, còn các loại trách nhiệm khác của doanh nghiệp đều đƣợc xây dựng dựa vào trách nhiệm kinh tế. Vì vậy, trách nhiệm kinh tế đƣợc Carroll sắp xếp là đáy của kim tự tháp CSR.