PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do nghiên cứu Thời gian qua tại Vĩnh Long và các địa phương khác trong cả nước, hoạt động R&D đã được triển khai khá mạnh dưới hình thức đề tài, dự án, chương trình KH&CN với quy mô từ cấp Nhà nước đến cấp cơ sở. Đa số đề tài/dự án là do các viện nghiên cứu, trường đại học trên địa bàn hoặc ngoài địa bàn thực hiện. Số còn lại là do DN tổ chức thực hiện.
Một số DN lớn có năng lực tài chính, đã dùng kinh phí tự có từ các nguồn thu của DN để thực hiện. Một số DNNVV tiềm lực tài chính có hạn, cũng thực hiện các nhiệm vụ R&D với sự hỗ trợ một phần tài chính từ ngân sách Nhà nước (Bộ, ngành trung ương, UBND tỉnh/thành phố). Tuy nhiên, kết quả từ hoạt động R&D của DN Việt Nam nói chung và Vĩnh Long nói riêng vẫn còn hạn chế cả về số lượng và chất lượng so với thế giới. Nguyên nhân hạn chế là …hiện nay nhiều doanh nghiệp trong nước còn mang nặng suy nghĩ từ nền kinh tế “bao cấp”, chưa chủ động nghiên cứu xây dựng chiến lược kinh doanh đúng đắn phù hợp với chủ trương hội nhập kinh tế quốc tế….
Việc đầu tư cho nghiên cứu phát triển, thương hiệu (1), kiểu dáng công nghiệp còn thấp, nhiều doanh nghiệp Việt Nam chi phí quá ít (không đến 1% doanh thu) cho các hoạt động nghiên cứu và phát triển. Trong một nghiên cứu do Trung tâm thông tin dự báo kinh tế - xã hội quốc gia (Bộ Kế hoạch và đầu tư) thực hiện đã đánh giá về nhu cầu thực tiễn của hoạt động KH&CN nói chung và hoạt động R&D nói riêng là:“ Trong giai đoạn 2011-2020, hoạt động R&D trên thế giới sẽ phát triển mạnh, do các nền kinh tế 1 Khái niệm “phát triển” ở đây cần được hiểu là nghiên cứu - triển khai và phát triển công nghệ, và khái niệm “thương hiệu” được hiểu là những tài sản phi vật chất được bảo hộ theo Luật Sở hữu trí tuệ bao gồm Tên thương mại, Nhãn hiệu hàng hóa, Chỉ dẫn địa lý, Nhãn hàng hóa. 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đều nhận thức được vai trò quan trọng của KH&CN đối với sản xuất. Chi cho R&D sẽ chiếm tỷ trọng lớn trong chi ngân sách quốc gia và đặc biệt là các công ty, tập đoàn xuyên quốc gia …” Cũng theo nhận định của Trung tâm thông tin dự báo kinh tế - xã hội quốc gia "Những thành tựu KH-CN được áp dụng có hiệu quả sẽ trang bị lại về kỹ thuật cho các lĩnh vực chủ yếu của nền kinh tế, từng bước thay thế các tư liệu sản xuất truyền thống bằng tư liệu sản xuất hiện đại, đóng góp 50-60% vào tăng trưởng kinh tế, trong đó 3/5 là do tăng năng suất lao động" [12,129].
Báo cáo của tổ chức UNCTAD (Diễn đàn Thương mại và Phát triển Liên hiệp quốc) cho thấy, trong năm 2002, thế giới đã chi 677 tỉ đô la đầu tư cho R&D, trong đó các tập đoàn xuyên quốc gia đã chi khoảng một nửa. Riêng trong hoạt động R&D của lĩnh vực thương mại, chi phí của các tập đoàn này còn lớn hơn, chiếm 2/3 tổng số chi của toàn thế giới. Trong năm 2003, mức chi cho R&D của mỗi tập đoàn lớn như Ford, Plizer, DamslerChryler, Siemens, Toyota và General Motor đều vượt quá 5 tỉ đô la Mỹ. Mức chi lớn tương tự như thế này chỉ được ghi nhận ở một số nền kinh tế đang phát triển như Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan và Braxin.
Cũng từ báo cáo của cơ quan này, hiện nay các DN lớn của thế giới đang chuyển nhiều hoạt động R&D của họ ra nước ngoài và một điểm đến được ưa thích nhất chính là châu Á. Một số quốc gia thành công nhất trong lĩnh vực thu hút các đầu tư R&D của các tập đoàn xuyên quốc gia có thể kể đến là Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan và Singapore. Việt Nam cũng là một trong số các ứng cử viên tiềm tàng cho các đầu tư R&D của các tập đoàn đa quốc gia nhưng vẫn có vị trí đứng sau Trung Quốc, Hàn Quốc, Singapore, Thái Lan, Đài Loan. Một kết quả khảo sát của UNCTAD, là trong số các địa điểm (các nước) có triển vọng hấp dẫn nhất đối với hoạt động đầu tư R&D của các tập đoàn đa quốc gia giai đoạn 2005-2009, Việt Nam tuy đứng ở top 20 của thế giới (thứ 18) nhưng lại chỉ được có 1,5% các tổ chức được khảo sát đề cập tới.
Trong khi đó, 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com con số này của Trung Quốc, nước có triển vọng số 1 thế giới là 61,8% [42, online]. Một trong những lý do chủ yếu mà các tập đoàn xuyên quốc gia còn ngần ngại khi đầu tư các hoạt động R&D vào Việt Nam là cơ sở hạ tầng dành cho nghiên cứu khoa học ở nước ta hiện vẫn còn khá nghèo nàn. Hệ thống đổi mới quốc gia (National Innovation System- NIS) vẫn chưa được vận hành tốt nhất và tốc độ đổi mới công nghệ của các DN Việt Nam vẫn còn quá chậm. Theo một nghiên cứu của PGS.TS Vũ Cao Đàm đăng t rên ta ̣p chí Hoa ̣t đô ̣ng Khoa ho ̣c với tựa đề “ Luâ ̣t KH &CN cầ n quan tâm đế n hoa ̣t đô ̣ng KH&CN trong sản xuấ t” thì nguyên nhân c ủa việc các DN Việt Nam chưa thể tham gia vào các hoạt động R&D chính là các DN còn quá yếu kém về nguồn lực KH&CN, nhất là : “Thiếu rất nhiều loại labo phân tích các thông số kỹ thuật của sản xuất và sản phẩm; hầu như không xí nghiệp nào có xưởng pilot; càng không có các bộ phận R&D để nghiên cứu đổi mới công nghệ và phát triển sản phẩm”[38, online].
Từ thực tiễn của hoạt động R&D ở khu vực DN của Việt Nam nói chung và Vĩnh Long nói riêng, vấn đề khoa học đặt ra cho những nhà hoạch định chính sách cũng như cộng đồng nghiên cứu là cần tạo ra chính sách, cơ chế và tìm kiếm giải pháp thích ứng cho các hoạt động R&D, để thu hút đầu tư của nước ngoài và đẩy mạnh đầu tư ở khu vực DN trong nước. Để tìm hiểu thực trạng và góp phần giải quyết vấn đề khoa học trên, đề tài luận văn tốt nghiệp cao học chuyên ngành Quản lý KH&CN với tựa đề “Giải pháp đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu và triển khai (R&D) trong các doanh nghiệp chế biến tại tỉnh Vĩnh Long”, sẽ bước đầu nghiên cứu thực tiễn hoạt động R&D của các doanh nghiệp công nghiệp chế biến tại Vĩnh Long, thu thập các luận cứ lý thuyết và thực tế, trên cơ sở đó đề xuất, khuyến nghị các giải pháp thích hợp cho Nhà nước và DN ở địa phương, góp phần đổi mới phương thức 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com quản lý các hoạt động KH&CN của hệ thống đổi mới quốc gia, trong quá trình hội nhập và phát triển toàn cầu như hiện nay. Lịch sử nghiên cứu 2.Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan 2. Đề tài: Giải pháp thúc đẩy ứng dụng kết quả R&D trong đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp ở Bình Định", Nguyễn Thanh Duy, 2006.
Trong nghiên cứu của mình, tác giả đã phân tích vai trò của đổi mới công nghệ trên cơ sở kết quả R&D với năng lực cạnh tranh của DN, tìm hiểu về các chính sách khuyến khích hoạt động này của Nhà nước. Các giải pháp được tác giả đưa ra nhằm thúc đẩy việc ứng dụng kết quả nghiên cứu gồm: - Nâng cao năng lực nghiên cứu của các tổ chức R&D theo hướng đổi mới tổ chức và cơ chế hoạt động nhằm đáp ứng nhu cầu đổi mới công nghệ: hỗ trợ các tổ chức R&D chuyển đổi sang cơ chế hoạt động tự chủ và định hướng phát triển liên kết với các tổ chức của Trung ương; hỗ trợ phát triển nhân lực, thông tin, tài chính cho các tổ chức; khuyến khích thực hiện các nhiệm vụ R&D ở địa phương; - Nâng cao năng lực R&D và ứng dụng kết quả nghiên cứu thông qua khuyến khích hoạt động trên một số lĩnh vực ưu tiên. Đề tài: Nghiên cứu sự hình thành phát triển tổ chức và hoạt động R&D trong doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam, Nguyễn Minh Hạnh, 2007. Nghiên cứu của tác giả tập trung việc phân tích lịch sử quá trình hình thành, phát triển của tổ chức và hoạt động R&D trong DNNVV ở nước ta.
Cần nhấn mạnh rằng, phần lớn DN ở nước ta đều là nhỏ và vừa. Trên cơ sở điều tra, khảo sát gần 100 DN, tác giả đã rút ra các yếu tố bên trong cũng như bên ngoài cản trở việc thúc đẩy tổ chức và hoạt động R&D của các DNNVV. Bằng cách đó, tác giả đã đề xuất một số giải pháp chính sách khắc phục sau: 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Nâng cao nhận thức của lãnh đạo các DN về vai trò của hoạt động R&D trong đổi mới công nghệ, đổi mới sản phẩm, nâng cao sức cạnh tranh của DN; - Hỗ trợ các DN thực hiện các hoạt động và tổ chức hoạt động R&D thông qua cơ chế miễn giảm thuế, chương trình xác lập nhãn hiệu, xuất xứ hàng hoá, bảo lãnh tín dụng v. Đề tài: Nghiên cứu và đề xuất giải pháp hỗ trợ phát triển kinh tế tư nhân tỉnh Vĩnh Long - Nhiều tác giả, Hiệp Hội Công thương tỉnh Vĩnh Long, 2006.