CHƯƠNG 1 : TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG THI CÔNG CÁC CÔNG TRÌNH THỦY LỢI 1.1 Tổng quan về quản lý chất lượng công trình xây dựng.1 Khái niệm quản lý chất lượng công trình xây dựng. Công trình xây dựng là sản phẩm được tạo thành bởi sức lao động của con người, vật liệu xây dựng, thiết bị lắp đặt vào công trình, được liên kết định vị với đất, có thể bao gồm phần dưới mặt đất, phần trên mặt đất, phần dưới mặt nước và phần trên mặt nước, được xây dựng theo thiết kế. Công trình xây dựng bao gồm công trình dân dụng, công trình công nghiệp, giao thông, nông nghiệp và phát triển nông thôn, công trình hạ tầng kỹ thuật và công trình khác. Quản lý chất lượng là các hoạt động có phối hợp để định hướng và kiểm soát một tổ chức về chất lượng.
Việc định hướng và kiểm soát về chất lượng nói chung bao gồm lập chính sách chất lượng và mục tiêu chất lượng, hoạch định chất lượng, kiểm soát chất lượng, đảm bảo chất lượng và cải tiến chất lượng. Quản lý chất lượng công trình xây dựng là một chuỗi các công việc và hành động được hệ thống nhằm hướng dẫn, theo dõi và kiểm soát công trình xây dựng để mang tới hiệu quả tốt nhất cho chất lượng công trình xây dựng. Theo quy của luật Xây dựng số 50/2014/QH13 và nghị định 46/2015/NĐ-CP, quy trình quản lý CLCTXD bao gồm các bước như sau: Quản lý Quản lý Quản lý Quản lý chất lượng công tác chất lượng chất lượng thi công bảo hành khảo sát thiết kế xây dựng bảo trì xây dựng xây dựng công trình công trình Sơ đồ 1-1: Quy trình quản lý chất lượng công trình xây dựng Quản lý chất lượng công trình xây dựng là hoạt động quản lý của các chủ thể tham gia các hoạt động xây dựng như: Các cơ quan chuyên môn về xây dựng, CĐT, các đơn vị thi công, tư vấn và các đơn vị khác có liên quan trong quá trình chuẩn bị, thực hiện đầu tư xây dựng công trình và khai thác sử dụng công trình nhằm đảm bảo các yêu cầu về chất lượng và an toàn của công trình.2 Các nguyên tắc đảm bảo chất lượng công trình xây dựng Để công trình xây dựng đạt được chất lượng và phát huy hiệu quả, cần đảm bảo các nguyên tắc dưới đây: - Chất lượng của sản phẩm xây dựng phải đáp ứng mong đợi của CĐT, thỏa mãn những nhu cầu đã được công bố hoặc còn tiềm ẩn. - Phải đảm bảo an toàn cho các công trình lân cận, đảm bảo vệ sinh tài nguyên môi trường cho khu vực thi công công trình.
- Chất lượng CTXD không chỉ đảm bảo sự an toàn về mặt kỹ thuật mà còn phải thỏa mãn các yêu cầu về an toàn sử dụng có chứa đựng yếu tố xã hội và kinh tế. - Hạng mục công trình, công trình xây dựng hoàn thành chỉ được phép đưa vào khai thác, sử dụng sau khi được nghiệm thu bảo đảm yêu cầu của thiết kế xây dựng, quy chuẩn kỹ thuật, tiêu chuẩn áp dụng cho công trình; các yêu cầu của hợp đồng xây dựng và quy định của pháp luật có liên quan. - Nhà thầu khi tham gia hoạt động xây dựng phải có đủ điều kiện năng lực theo quy định, phải có biện pháp tự quản lý chất lượng các công việc xây dựng do mình thực hiện. Nhà thầu chính hoặc tổng thầu có trách nhiệm quản lý chất lượng công việc do nhà thầu phụ thực hiện.
- Các chủ thể tham gia hoạt động đầu tư xây dựng quy định là nhà thầu, CĐT và các cơ quan chuyên môn phải chịu trách nhiệm về chất lượng các công việc do mình thực hiện. - Cơ quan chuyên môn về xây dựng hướng dẫn, kiểm tra công tác quản lý chất lượng của các tổ chức, cá nhân tham gia xây dựng công trình; thẩm định thiết kế, kiểm tra công tác nghiệm thu công trình xây dựng, tổ chức thực hiện giám định chất lượng công trình xây dựng; kiến nghị và xử lý các vi phạm về chất lượng công trình xây dựng theo quy định của pháp luật [1].3 Các chức năng của quản lý chất lượng công trình xây dựng QLCLCTXD cũng như bất kỳ một loại quản lý nào đều phải thực hiện một số chức năng cơ bản như: Hoạch định, tổ chức, kiểm tra, kích thích, điều hòa phối hợp. Nhưng do mục tiêu và đối tượng quản lý của quản lý chất lượng có những đặc thù riêng nên các chức năng của quản lý chất lượng xây dựng cũng có những đặc điểm riêng 5 1.1 Chức năng hoạch định chất lượng Hoạch định là chức năng quan trọng hàng đầu và đi trước các chức năng khác của quản lý chất lượng. Hoạch định chất lượng là một hoạt động xác định mục tiêu và các phương tiện, nguồn lực và biện pháp nhằm thực hiện mục tiêu CLXD.
Nhiệm vụ của hoạch định chất lượng là: - Nghiên cứu thị trường để xác định yêu cầu của khách hàng về sản phẩm hàng hoá dịch vụ, từ đó xác định yêu cầu về chất lượng, các thông số kỹ thuật cơ bản. - Xác định mục tiêu chất lượng cần đạt được và chính sách chất lượng. - Chuyển giao kết quả hoạch định cho các bộ phận tác nghiệp.2 Chức năng tổ chức Để làm tốt chức năng tổ chức cần thực hiện các nhiệm vụ chủ yếu sau đây: - Tổ chức hệ thống quản lý chất lượng. - Tổ chức thực hiện bao gồm việc tiến hành các biện pháp kinh tế, tổ chức, kỹ thuật, chính trị, tư tưởng, hành chính nhằm thực hiện kế hoạch đã xác định.3 Chức năng kiểm tra, kiểm soát Kiểm tra, kiểm soát chất lượng là quá trình điều khiển, đánh giá các hoạt động tác nghiệp thông qua những kỹ thuật, phương tiện, phương pháp và hoạt động nhằm đảm bảo CLCTXD theo đúng yêu cầu đặt ra.
Những nhiệm vụ chủ yếu của kiểm tra, kiểm soát chất lượng là: - Tổ chức các hoạt động nhằm bảo đảm CLCTXD như yêu cầu. - Đánh giá việc thực hiện công tác quản lý chất lượng của các chủ thể. - So sánh chất lượng thực tế với tiêu chí chất lượng để phát hiện những sai lệch. - Tiến hành các hoạt động cần thiết nhằm khắc phục những sai lệch, đảm bảo thực hiện đúng những yêu cầu.
Khi thực hiện kiểm tra, kiểm soát các kết quả thực hiện kế hoạch cần đánh giá một cách độc lập hai vấn đề sau: (1) Sự tuân thủ pháp luật trong quản lý chất lượng và (2) hệ thống quản lý chất lượng. Nếu mục tiêu không đạt được có nghĩa là một trong hai hoặc cả hai điều kiện trên không được thỏa mãn.4 Chức năng kích thích Kích thích việc đảm bảo và nâng cao chất lượng được thực hiện thông qua áp dụng chế độ thưởng phạt về chất lượng và áp dụng giải thưởng quốc gia về đảm bảo và nâng cao chất lượng xây dựng.5 Chức năng điều chỉnh, điều hòa, phối hợp Đó là toàn bộ những hoạt động nhằm tạo ra sự phối hợp đồng bộ, khắc phục các tồn tại và đưa CLCTXD lên mức cao hơn. Hoạt động điều chỉnh, điều hòa, phối hợp đối với quản lý chất lượng được hiểu rõ ở nhiệm vụ cải tiến và hoàn thiện chất lượng. Khi tiến hành các hoạt động điều chỉnh cần phải phân biệt rõ ràng giữa việc loại trừ hậu quả và loại trừ nguyên nhân của hậu quả.
Cần tìm hiểu nguyên nhân xảy ra khuyết tật và có biện pháp khắc phục ngay từ đầu. Nếu không đạt mục tiêu chất lượng do kế hoạch QLCL đề ra, cần hoàn thiện ngay vì đây là yếu tố cơ bản bảo đảm chất lượng công trình.4 Các phương thức quản lý chất lượng xây dựng Trong lịch sử ngành xây dựng, CLCTXD không ngừng tăng lên theo sự phát triển của các nền văn minh. Ở mỗi giai đoạn đều có một phương thức QLCL tiêu biểu cho thời kỳ đó. Tùy theo cách nhìn nhận, đánh giá và phân loại, các chuyên gia chất lượng trên thế giới có nhiều cách đúc kết khác nhau, nhưng về cơ bản tất cả đều nhất quán về hướng phát triển của quản lý chất lượng và có thể đúc kết thành một số phương thức tiêu biểu sau: 1.1 Phương thức kiểm tra chất lượng (Inspection) Theo ISO 8402 thì “Kiểm tra CLXD là các hoạt động như thẩm tra, thẩm định, thử nghiệm hoặc kiểm định một hay nhiều đặc tính chất lượng và so sánh kết quả với yêu cầu quy định nhằm xác định sự không phù hợp về CLXD”.
Có thể nói đây là mức độ thấp nhất của quản lý chất lượng, nội dung chính của nó là kiểm tra chất lượng khi công trình đã xây dựng xong, để phát hiện những phần chưa đạt chất lượng và yêu cầu sữa chữa lại. Cách làm này bị động và không có hiệu quả kinh tế trong giai đoạn hiện nay, bởi việc kiểm tra chỉ giúp xử lý các khiếm khuyết đã xảy ra chứ không nâng cao được chất lượng xây dựng.2 Phương thức kiểm soát chất lượng – QC (Quality Control) Xuất phát từ những hạn chế của phương pháp kiểm tra chất lượng, vào những năm 1920 người ta đã bắt đầu chú trọng đến việc đảm bảo ổn định chất lượng trong suốt quá trình, hơn là đợi đến khâu cuối cùng mới tiến hành kiểm tra, kiểm định. Từ đó khái niệm kiểm soát chất lượng đã ra đời. 7 Kiểm soát chất lượng là những hoạt động và các biện pháp kỹ thuật có tính tác nghiệp nhằm theo dõi quá trình sản xuất hay thi công xây dựng, đồng thời loại trừ những nguyên nhân không thỏa mãn ở mọi giai đoạn của sản xuất để đạt hiệu quả kinh tế tránh tình trạng loại bỏ sản phẩm hàng loạt trong quá trình sản xuất.
Nội dung của kiểm soát chất lượng bao gồm các yếu tố như: Kiểm soát con người, kiểm soát phương pháp và quá trình, kiểm soát việc cung ứng các yếu tố đầu vào, kiểm soát trang thiết bị và kiểm soát thông tin. Cần lưu ý rằng kiểm soát chất lượng phải tiến hành song song với kiểm tra chất lượng vì nó buộc sản phẩm làm ra phải được một mức chất lượng nhất định và ngăn ngừa bớt những sai sót có thể xảy ra. Nói cách khác là kiểm soát chất lượng phải gồm cả chiến lược kiểm tra chất lượng. Giữa kiểm tra và kiểm soát chất lượng có điểm khác nhau cơ bản.
Kiểm tra là sự so sánh, đối chiếu giữa chất lượng thực tế với những yêu cầu chất lượng đặt ra. Kiểm soát là hoạt động bao quát hơn, toàn diện hơn. Nó bao gồm các hoạt động thẩm tra, giám sát trong suốt quá trình thiết kế, thi công, để so sánh, đánh giá chất lượng, tìm nguyên nhân và biện pháp khắc phục.