mở đầu vào những năm cub Sky XVIII, các chức năng kiểm tra và sản xuất đã được tách riêng, các nhân viên kiểm tra được dio tạo và thục hiện nhiệm vụ, dim bảo chất lượng sin phẩm xuất xưởng phù hợp với qui định. Như vậy, kiểm tra chất lượng là hình thức quan lý chất lượng sớm, nhất. ‘Sau khi hệ 1 ông Taylor và hệ thống Ford được áp dụng vào đầu thể ky XX và việc sn xuất với khối lượng lớn đã trở nên phát in rộ rãi, khách hàng bat đầu yêu cầu càng cao vé chất lượng và sự cạnh tranh giữa các cơ sở sin xuất về chất lượng: ngày cing gay gắt thì các nhà công nghiệp dẫn din nhận ra rằng kiểm tra 100% không phải là cách đảm bảo chất lượng tốt nhất, kiểm tra chất lượng là hoạt động như do, 10 ‘xem xét, thir nghiệm, định cỡ mot hay nhiễu đặc tinh của đối trợng và so sánh kết qua với yêu cầu nhằm xác định sự phù hợp của mỗi đặc tinh, Như vậy, kiểm tra chỉ là một sự phân loại sản phẩm đã được chế tạo, đấy là cách xử lý chuyện đã rồi. Điểu đó có "nghĩa là chất lượng không được tạo dựng nên qua kiểm tra.
Ngodi ra, 48 dim bảo chất lượng sản phẩm phù hợp qui định một cách có hiệu quả bằng cách kiếm tra sàng lọc 100% sin phẩm, cn phái thỏa man những điều kiện sau ~ Công việc kiểm tra cần được tiến hành một cách đáng tin cậy và không có sai sót. - “Chỉ phí cho sự kiểm tra phải ít hơn chỉ phi tổn thất do sản phẩm khuyết tật và những thiệt hai do ảnh hưởng đến lòng tin của khách hàng. ~ Quá trình kiểm tra không được ảnh hưởng đến chất lượng. Những điều kiện trên.
không phải thực hiện dễ dàng ngay cả với công nghiệp hiện đại. sin phẩm phù hợp qui định cũng chưa chắc đã thỏa mãn nhu cầu thị trường nếu như các qui định Không phản ánh đúng như cằu. Vì lý do này, vào những năm 1920 người ta đã bit đầu chi trọng đến việc dim bảo ôn định chất lượng trong những quá tình trước đó, hơn là đợi đến khâu cuỗi cùng mới tiến hành sàng lọc 100% sản phẩm. Khi đồ khái niệm kiêm soát chất lượng (Quality Control - QC) đã ra đồi 1.
Phương thức kiểm soát chất lượng ~ QC (Quality Control) Walter A. § ewhart, một kỹ su thuộc phòng thí nghiệm Bell Telephone tại Priceton Newjerscy (Mỹ) là người đầu 1 vie sử dụng các biểu đồ kiểm soát vào việc quản lý các cụm công nghiệp và được coi là mốc ra đồi của hệ thống kiểm soát chất lượng hiện đại. Kiểm soát chất lượng là các hoạt động kỹ thuật mang tính tác nghiệp. được sử dụng để đáp ứng các yêu cầu chit lượng.
Dễ kiểm soát chất lượng, công ty phải kiếm soát được mọi yêu tổ ảnh hưởng trực Up tới quá tình tạo ra chất lượng. Việc kiểm soát này nhằm ngăn ngừa sản xuất ra sản phẩm khuyết tật. Mỗi doanh nghiệp muốn có sản phim, dich vụ của mình có chit lượng cần phải kiểm soát được 5 đi kiện cơ bản sau đây: - Kiểm soát con người: Tắt cả mọi người, từ lãnh đạo cấp cao nhất tối nhân viên thường trực phải: Được đào tạo để thực hiện nhiệm vụ được giao; đủ kinh nghiệm để sử đụng các phương php, qu tình cũng như biết sử dụng các tang thiết bị, phương in éu biết rõ về nhiệm vụ và trách nhiệm của mình đối với chất lượng sản phẩm; có đầy đủ những tài liệu, hướng dẫn công việc cn thiết và có đủ phương tiện để tiến hành công việc; có đủ mọi điều kiện edn thiết khác để công việc có thể đạt được chất lượng như mong muốn - Kiểm soát phương pháp và quá t thị Phương pháp và quá trình phải phù hợp nghĩa ry ing phương pháp và quá trình chắc chắn sản phẩm và địch vụ được tạo ra sẽ đạt được những yêu cầu dé ra. - Kiểm soát việc cung ứng các yếu tổ đầu vào: Nguồn cung cấp nguyên vật liệu phải được lựa chọn.
Nguyên liệu phải được kiểm tra chặt chẽ khi nhập vào và trong quá trình bảo quản. = Kiểm soát trang thiết bị đùng trong sân xuất va thử nghiệm: Các loại thiết bị này phải phù hợp với mục dich sử dụng. Đảm bảo được yêu cầu như: Hoạt động tốt; Đảm bio cúc yêu cầu kỹ thuật; An toàn đối với công nhân vận hành; Không gây 6 nhiễm mỗi trường, phải sạch sẽ. = Kiểm soát thông tin: Mọi thông in phải được người có thẳm quyển kiểm ta và đuyệt ban hành.
Thông tin phải cập nhật và được chuyển đến những chỗ cin thiết dé sử dụng. Cần lưu ý rằng kiểm soát chất lượng phải én hành song song với kiểm tra lượng vì nó buộc sản phẩm làm ra phải được một mức chất lượng nhất định và ngăn ngừa bit những sai lỗi có thể xảy ra. Nồi cách khác là mm soát chất lượng phải gồm cả chiến lược kiểm tra sản xuất. Giữa kiểm tra và kiểm soát chất lượng có êm khác nhau cơ bản, Kiểm tra là sự so sánh, đối chiếu giữa chất lượng thực tế của sản phẩm với những yêu.
cầu kỹ thuật từ 46 loại bỏ các ph phẩm. Kiểm soát là hoạt động bao quát hơn, toàn diện hơn. Nó bao gồm các hoạt động Marketing, thiết kế, sin xuất, so sinh, đánh giá chất lượng và dịch vụ sau bán hàng, tìm nguyên nhân và biện pháp khắc phục. Quality Control ra đời tại Mỹ, các phương pháp nảy được áp dụng mạnh mẽ trong lĩnh vực quân sự và không được các công ty Mỹ phát huy sau chiến tranh.
Trái lai, chính ở "Nhật Bản, việc kiểm soát chất lượng mới được áp dụng và phát triển. Trong thập ky áp dạng đầu ti i những năm 1940 tại Nhật Bản, các kỹ thuật kiểm soát chất lượng thống kê (SQC) chỉ được áp dụng rt hạn chế trong một số khu vực sản xuất và kiêm nghiệm. Để dat được mục iêu chính cia quân lý chit lượng là thôa mãn người tiêu ding, thì đồ chưa phải là điều kiện đủ, nó đòi hỏi không chỉ áp dụng các phương: phấp này vào quá trình xảy ra trước qué trình sản xuất và kiểm tra, như khảo sắt thị trường, nghiên cứu, lập kế hoạch, phát tiển, tiết kế và mua hàng mà còn phải áp dụng cho các quá trình xảy ra sau đó như đóng gói, lưu kho, vận chuyển, phân phối bắn hàng và dịch vụ sau khi bán hang. Từ đó khái niệm quản lý chất lượng toàn đời 1.
Phương pháp im bảo chất lượng= QA (Quality Assurance) Chất lượng phải hưởng tới sự thỏa mãn khách hàng. Tuy nhiền, cũng phải đến sau chiến tranh Thể giới lần thứ hai do tình trang cạnh tranh ngày càng gay gắt vỉ tr của "khách hàng mới được quan tâm. Việc nghiên cứ mỗi quan hệ giữa khách hàng và nhà cung ứng được đẩy mạnh. Nói chung khách hàng đến với nhà cung cấp dé xây dựng các hợp đồng mua bán là dựa trên hai yếu tổ, giá cả (bao gồm cả giá mua, chỉ phí sử dụng, giá bán lại sau khi sit đụng.
) và sự tín nhiệm đổi với người cung cấp. Làm thé nảo để có được sự tín nhiệm của khách hàng vé mặt chất lượng, thâm chí khi khách hing chưa nhận được sản phẩm. Trong một thời kỳ đài rong nữa đầu thé kỷ XX người mua hàng sau khi ky kết hop đồng xong chỉ còn cách phó mặc cho nhà sản xuất tự lo liệu, cho tới khi nhận hàng. Họ không thé biết được những gì điển ra.
Cho tới chiến tranh thé giới lần thứ hai, khi đòi hồi có độ tin cậy cao trong cung cấp vũ khí và sau này đối với một số sản phẩm khác có độ nguy hiểm cao thì vin đề này mới thực sự được quan tâm. Khách hàng cũng đã s6 một số giải pháp như cử giám định viên đến cơ sở sản xuất đ kiểm tra một số khâu 4quan trọng trong quá tinh sản xuất. Nhưng điều đó vẫn không đủ, vì còn nhiều yếu tổ cầu của khách hàng, một phương thức quản lý chất lượng mới *Đảm bảo chất lượng” ra đời để thay thé cho kiểm soát B Đảm bảo chất lượng là mọi hoạt động có kế hoạch, có hệ thing và được khẳng định nếu cần để dem lạ lòng tin thoả đáng sản phẩm thỏa mãn các yêu cầu đã định đối với chất lượng. Để có thé đảm bảo chất lượng theo nghĩa trên, người cung cắp phải xây.
dựng một hệ thông đảm bảo chất lượng có hiệ lực và hiệu qua, đồng thời làm thé nào để chứng 16 cho khách hàng biết điều đó, Đó chính là nội dung cơ bản của hoạt động dim bảo chất lượng. Quan điểm đảm bảo chất lượng được áp dung trong những n ih công nghiệp đồi hỏi độ tin cậy cao, sau đó phát trién rộng sang ngành sản bình thường và ngày nay bao gdm cả lĩnh ve cung cấp dich vụ như ti c ngân hàng. Cách thức quản lý chất lượng theo kiểu đảm bao chất lượng: được thực hiện ựa trên hai yếu tổ: Phải chứng minh được việc thực hiện kiểm soát chất lượng va đưa ra được những bằng chẳng về việc kiểm soát Ấy Tay theo mức độ phức tạp của cơ cấu tổ chức và mức độ phức tạp của sản phẩm dịch vụ mà việc đảm bảo chất lượng đồi hỏi phải có nhiều hay ít văn bản. Khi đánh giá, khách hàng sẽ xem xét các văn bản tài liệu này và xem nó là cơ sở ban đầu để khách hàng đặt niềm tin vào nhà cung ứng.
Mô hình đảm bảo chất lượng sau khi sản phẩm. được sin xuất ra nhà cưng ứng sẽ tình bày những bing chúng về kiém soát chất lượng có qui định trong hợp đồng (Phiéu kiếm tra sản xuất, kiểm tra sản phẩm. Phương pháp kiém soái chất lượng toàn diện = TOC (Total Quality Control) “Thuật ngữ kiểm soát chất lượng toàn diện do Feigenbaun đưa ra trong lần xuất bản cuốn sách Total Quality Control (TQC) của ông năm 1951. Trong lan tái bản lần thứ ba năm 1983, Feigenbaun định nghĩa TQC như sau: “Ki xoát chất lượng toàn điện là một hệ thống có hiệu quả dé nhắt thể hóa e nỗ lực phát tiễn và cải tiến chất lượng của các nhóm khác nhau vào trong một tỏ chức sao cho các hoạt động Marketing, kỹ thuật và dich vụ có thể tiến hành một cách kinh tế nhất, cho pháp thỏa mãn hoàn toàn khách hàng”.
Kiểm soát chất lượng toàn diện huy động nỗ lực của mọi đơn vị trong công ty vào các quá tình có liên quan tới duy tử và cải tiền chất lượng. Điễu này sẽ giúp tiết kiệm tối đa trong sản xuất, dich vụ, đồng thời thỏa mãn nhu cầu khách hàng.