Tổng quan nghiên cứu
Nghề làm muối tại tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu sở hữu bề dày lịch sử hơn 160 năm, khai thác tiềm năng to lớn từ 305 km bờ biển cùng nguồn nước biển có độ mặn tự nhiên lý tưởng đạt 3,2% - 3,5%. Trong giai đoạn 2015 - 2016, toàn tỉnh duy trì quy mô diện tích làm muối 904,7 ha (trong đó diện tích muối thô chiếm 886,7 ha và muối sạch đạt 18 ha), đạt tổng sản lượng 71.842 tấn/năm, đóng góp khoảng 5,4% sản lượng muối toàn quốc. Đáng chú ý, hơn 80% sản lượng muối của địa phương được các nhà thùng tại Phú Quốc lựa chọn làm nguyên liệu duy nhất để chế biến nước mắm cá cơm truyền thống. Toàn ngành muối tạo sinh kế trực tiếp cho 717 hộ diêm dân với 1.462 lao động tại các địa bàn trọng điểm gồm huyện Long Điền, thành phố Bà Rịa và thành phố Vũng Tàu.
Tuy nhiên, năng lực cạnh tranh của cụm ngành muối đang đứng trước nhiều thách thức nghiêm trọng. Năng suất bình quân của tỉnh chỉ đạt khoảng 98 tấn/ha, thấp hơn đáng kể so với các tỉnh Duyên hải Nam Trung Bộ. Năm 2016, lượng muối tồn đọng trong dân lên tới 37.518 tấn (chiếm gần 48% tổng sản lượng niên vụ). Tình trạng thiếu chứng nhận chỉ dẫn địa lý khiến thương hiệu muối Bà Rịa bị giả mạo tràn lan, sản phẩm chủ yếu là muối thô phơi nước truyền thống, hạ tầng kỹ thuật đồng muối xuống cấp và chưa có năng lực cung ứng muối công nghiệp đạt chuẩn cho các tổ hợp hóa chất trong Vùng Kinh tế trọng điểm phía Nam.
Mục tiêu cốt lõi của nghiên cứu là khảo sát, phân tích toàn diện thực trạng và các nhân tố quyết định năng lực cạnh tranh của cụm ngành muối tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp chính sách mang tính khả thi nhằm nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững nghề muối. Phạm vi không gian nghiên cứu tập trung tại tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu trong mối tương quan so sánh với các địa phương sản xuất muối lớn như Ninh Thuận, Khánh Hòa; phạm vi thời gian thu thập dữ liệu tập trung chủ yếu trong giai đoạn 2011 - 2016. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, góp phần hiện thực hóa quy hoạch quốc gia đạt 150.000 tấn muối công nghiệp tại địa phương vào năm 2030 và gia tăng giá trị sản xuất toàn ngành vượt ngưỡng 134,7 tỷ đồng.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Nghiên cứu ứng dụng lý thuyết Năng lực cạnh tranh quốc gia và Cụm ngành của Michael Porter (1990, 1998, 2008), được bổ sung và chuẩn hóa bởi chuyên gia kinh tế Vũ Thành Tự Anh (2011, 2012) để phù hợp với bối cảnh kinh tế địa phương tại Việt Nam. Trọng tâm của lý thuyết khẳng định năng suất sử dụng nguồn lực (vốn, lao động, đất đai và công nghệ) là thước đo chuẩn xác và có ý nghĩa duy nhất đối với năng lực cạnh tranh. Mô hình Kim cương của Michael Porter đánh giá sức cạnh tranh cụm ngành dựa trên sự tương tác của 4 yếu tố nền tảng:
- Điều kiện các nhân tố sản xuất: Đánh giá lợi thế vị trí địa lý, điều kiện khí tượng với 168 - 181 ngày mùa khô, bức xạ nhiệt 395 - 512 cal/cm2/ngày, thổ nhưỡng đất sét mặn giữ nước tốt, hạ tầng giao thông và nguồn nhân lực địa phương.
- Điều kiện về cầu: Phân tích quy mô và thị hiếu của thị trường tiêu thụ nội địa, bao gồm nhu cầu ướp ướp chế biến thủy hải sản, sản xuất nước mắm Phú Quốc và nhu cầu khắt khe về muối công nghiệp có hàm lượng natri clorua trên 98% cho ngành hóa chất.
- Các ngành công nghiệp hỗ trợ và liên quan: Đánh giá sự liên kết với cụm cảng nước sâu Cái Mép - Thị Vải, hệ thống logistics vận tải thủy - bộ, các cơ sở cung ứng thiết bị máy bơm, xa quạt gió, bạt nhựa và ngành bao bì.
- Bối cảnh chiến lược và sự cạnh tranh của doanh nghiệp: Phân tích môi trường đầu tư kinh doanh thông qua Chỉ số Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI đạt 60,5 điểm năm 2016), cấu trúc quy mô giữa các hộ sản xuất cá thể với 7 cơ sở chế biến, cùng áp lực cạnh tranh từ muối nhập khẩu giá rẻ.
Mô hình tích hợp vai trò định hướng của chính quyền địa phương qua các quy hoạch, chính sách tín dụng và tác động của rủi ro biến đổi khí hậu. Hệ thống khái niệm trọng tâm bao gồm: Cụm ngành (Cluster), Năng suất các yếu tố tổng hợp (TFP), Năng lực cạnh tranh địa phương và Chỉ dẫn địa lý (Geographical Indication).
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng phương pháp định tính kết hợp phân tích thống kê mô tả. Nguồn dữ liệu thứ cấp được kế thừa từ các báo cáo định kỳ giai đoạn 2011 - 2016 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Cục Chế biến Nông lâm thủy sản và Nghề muối, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu cùng Niên giám Thống kê tỉnh.
Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua khảo sát thực địa và phỏng vấn sâu tại 5 vùng sản xuất muối trọng điểm: xã An Ngãi, thị trấn Long Điền (huyện Long Điền), phường Long Hương (TP. Bà Rịa), xã Long Sơn và phường 12 (TP. Vũng Tàu). Cỡ mẫu nghiên cứu gồm:
- 30 hộ diêm dân đại diện cho 717 hộ sản xuất muối trên toàn tỉnh.
- 03 doanh nghiệp chế biến và kinh doanh muối tiêu biểu (bao gồm Công ty Cổ phần Muối Bà Rịa - Vũng Tàu thuộc Công ty Muối III).
- 04 cán bộ quản lý nhà nước chuyên trách (01 lãnh đạo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh, 01 lãnh đạo Chi cục Phát triển nông thôn, 02 lãnh đạo Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Long Điền).
Phương pháp chọn mẫu áp dụng là chọn mẫu phi xác suất có chủ đích kết hợp phân tầng theo quy mô ruộng muối và công nghệ sản xuất (muối phơi nước truyền thống và muối trải bạt). Lý do lựa chọn phương pháp phân tích định tính dựa trên mô hình Kim cương Porter là nhằm bóc tách toàn diện các mối liên kết nội bộ cụm ngành, làm rõ rào cản thể chế và nguyên nhân đứt gãy thị trường mà các phương pháp định lượng hồi quy tuyến tính khó phản ánh đầy đủ.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Thứ nhất, muối truyền thống Bà Rịa sở hữu các chỉ số hóa lý và chất lượng vượt trội so với các vùng muối lớn trong cả nước. Kết quả phân tích mẫu chứng minh hàm lượng chất không tan trong muối Bà Rịa chỉ ở mức 0,14%, thấp hơn 4 lần so với muối Ninh Thuận (0,56%) và thấp hơn 2 lần so với muối Khánh Hòa (0,28%), đồng thời thấp hơn 3 lần so với ngưỡng tối đa của tiêu chuẩn TCVN 9638:2013. Hàm lượng ion magie (Mg2+) gây vị đắng chát chỉ chiếm 0,20%, thấp hơn 2,4 lần so với muối Ninh Thuận và thấp hơn 3,5 lần so với tiêu chuẩn quốc gia. Hàm lượng ion sunfat (SO4) chỉ đạt 0,49%, thấp hơn 2,9 lần so với Ninh Thuận (1,42%). Độ ẩm muối đạt 4,64%, thấp hơn mức 5,27% của Ninh Thuận và 5,53% của Khánh Hòa, tạo nên hạt muối rắn chắc, trắng xám sáng và mang vị mặn dịu thuần khiết.
Thứ hai, công nghệ sản xuất muối sạch trải bạt ô kết tinh mang lại hiệu quả kinh tế vượt bậc nhưng tốc độ nhân rộng còn rất chậm. Việc ứng dụng bạt nhựa giúp tiết kiệm 40% diện tích ô kết tinh, tăng năng suất lên 1,76 lần, giảm thiểu tạp chất hòa tan và nâng giá bán cao hơn muối nền đất khoảng 400 đồng/kg. Lợi nhuận bình quân trên 1 ha muối sạch đạt gần 100 triệu đồng/vụ (chênh lệch cao hơn phương pháp truyền thống gần 54 triệu đồng/ha). Dẫu vậy, toàn tỉnh mới chỉ phát triển được 18 ha muối sạch trên tổng số 904,7 ha diện tích do suất đầu tư ban đầu vượt quá khả năng tài chính của hộ gia đình.
Thứ ba, cấu trúc kênh phân phối bộc lộ sự phụ thuộc nặng nề vào các tác nhân trung gian. Kênh phân phối cấp 1 qua thương lái chiếm tới 50% sản lượng tiêu thụ, kênh cấp 2 chiếm 14%, trong khi kênh bán trực tiếp cho tàu cá và người tiêu dùng chỉ chiếm 7%. Do chưa xây dựng được chỉ dẫn địa lý, thương hiệu Muối Bà Rịa bị nhiều đơn vị thu gom muối giá rẻ từ nơi khác mạo danh, dẫn đến lượng muối tồn đọng kỷ lục 37.518 tấn vào cuối năm 2016.
Thứ tư, nguồn nhân lực ngành muối suy giảm mạnh và già hóa nghiêm trọng. Số lượng lao động giảm từ 4.539 người năm 2005 xuống còn 1.462 người năm 2016 (giảm 67,8%). Thu nhập bình quân của diêm dân chỉ đạt 20,6 triệu đồng/người/niên vụ. Toàn tỉnh thiếu vắng các doanh nghiệp quy mô lớn dẫn dắt chuỗi giá trị, 100% hộ dân vẫn sản xuất phân tán với diện tích bình quân 1,43 ha/hộ.
Thảo luận kết quả
Nguyên nhân căn bản của việc năng lực cạnh tranh cụm ngành muối Bà Rịa - Vũng Tàu chưa phát huy hết tiềm năng xuất phát từ sự thiếu vắng liên kết chuỗi giữa nông dân và doanh nghiệp chế biến. So sánh với các công trình nghiên cứu trước đây, kết quả nghiên cứu này tương đồng với nhận định của Phạm Văn Dực (2015) khi khẳng định vai trò độc tôn không thể thay thế của muối Bà Rịa đối với nước mắm Phú Quốc, nhưng chỉ ra bước thụt lùi trong công tác bảo hộ nhãn hiệu thương mại. Kết quả cũng củng cố phát hiện của Mai Văn Nam và Nguyễn Quốc Nghi (2016) tại Đồng bằng sông Cửu Long về thực trạng diêm dân sản xuất theo phương thức lấy công làm lời do chi phí nhân công cao và thiếu kênh tiếp cận tín dụng chính thức.
Để làm rõ bức tranh cạnh tranh, các dữ liệu nghiên cứu có thể được trực quan hóa hiệu quả thông qua:
- Biểu đồ kết hợp cột - đường thể hiện biến động diện tích (ha), sản lượng (tấn) và năng suất (tấn/ha) của Bà Rịa - Vũng Tàu đối sánh với 20 tỉnh ven biển giai đoạn 2011 - 2016.
- Bảng ma trận so sánh các chỉ tiêu hóa lý (hàm lượng tạp chất, độ ẩm, Mg2+, SO4, NaCl) giữa muối Bà Rịa với muối Ninh Thuận, Khánh Hòa và tiêu chuẩn TCVN 9638:2013.
- Sơ đồ luồng chuỗi giá trị và phân bổ lợi nhuận biên giữa các tác nhân (diêm dân, thương lái, cơ sở chế biến, đại lý phân phối).
Cách trình bày trực quan này phản ánh rõ nghịch lý: chất lượng sản phẩm đứng đầu cả nước nhưng năng suất và giá trị thu hồi của người sản xuất lại ở mức thấp do rào cản công nghệ kết tinh và quản trị thương hiệu.
Đề xuất và khuyến nghị
Nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cụm ngành muối tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu một cách bền vững, hệ thống giải pháp đồng bộ được đề xuất theo các trụ cột hành động cụ thể:
- Xây dựng và đăng ký bảo hộ Chỉ dẫn địa lý "Muối Bà Rịa": Sở Khoa học và Công nghệ chủ trì phối hợp với Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cùng UBND huyện Long Điền hoàn thiện hồ sơ khoa học, thiết lập bộ tiêu chuẩn chất lượng và cấp tem truy xuất nguồn gốc QR code trong giai đoạn 2019 - 2021. Mục tiêu bảo hộ 100% sản lượng muối thương phẩm cung cấp cho các nhà thùng Phú Quốc và xử lý triệt để tình trạng mạo danh thương hiệu.
- Đẩy mạnh chương trình khuyến diêm và hỗ trợ vốn chuyển đổi công nghệ trải bạt: Chi cục Phát triển nông thôn phối hợp với Ngân hàng Chính sách Xã hội triển khai gói tín dụng ưu đãi lãi suất 0% trong 2 năm đầu cho 300 hộ diêm dân. Đặt mục tiêu mở rộng diện tích muối sạch từ 18 ha lên 150 ha vào năm 2022, nâng năng suất bình quân toàn tỉnh từ 98 tấn/ha lên 120 tấn/ha và tăng thu nhập thêm 45 - 50 triệu đồng/ha/vụ cho diêm dân nghèo.
- Quy hoạch vùng sản xuất tập trung và thu hút doanh nghiệp sản xuất muối công nghiệp: UBND tỉnh và Sở Công Thương bố trí quỹ đất sản xuất sạch 200 - 300 ha theo Quyết định số 4513/QĐ-BNN-CB của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Ban hành chính sách ưu đãi thuế và đất đai nhằm kêu gọi các doanh nghiệp lớn đầu tư dây chuyền tinh chế hiện đại, hướng tới mục tiêu đạt sản lượng 150.000 tấn muối công nghiệp vào năm 2030 để phục vụ trực tiếp các khu công nghiệp hóa chất trong vùng.
- Nâng cấp hoàn thiện hạ tầng đồng muối thích ứng với biến đổi khí hậu: Đẩy nhanh tiến độ thực hiện Quyết định số 2518/QĐ-UBND với tổng mức đầu tư 42,34 tỷ đồng. Tập trung nạo vét 15 km hệ thống kênh cấp thoát nước mặn, kiên cố hóa đê bao ngăn triều cường tại Long Điền và Long Sơn, xây dựng bãi tập kết muối tập trung và kéo mạng lưới điện hạ thế phục vụ cơ giới hóa sản xuất trước năm 2022.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
- Cơ quan quản lý nhà nước và hoạch định chính sách cấp tỉnh, huyện: Lãnh đạo và chuyên viên Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Công Thương, Chi cục Phát triển nông thôn có thể sử dụng khung phân tích Kim cương Porter trong luận văn để xây dựng quy hoạch tổng thể ngành muối, thiết kế chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế tập thể và quản lý quỹ đất nông nghiệp ven biển.
- Doanh nghiệp sản xuất chế biến muối và các hiệp hội ngành nghề thủy sản: Các đơn vị kinh doanh muối, các doanh nghiệp chế biến thực phẩm và Hiệp hội Nước mắm Phú Quốc khai thác dữ liệu thực nghiệm về thành phần hóa lý của muối Bà Rịa để chuẩn hóa quy trình thu mua nguyên liệu, ký kết hợp đồng bao tiêu dài hạn và thiết lập chuỗi giá trị gia tăng khép kín.
- Ban quản trị Hợp tác xã diêm nghiệp và các hộ làm muối: Các hợp tác xã tại địa phương tham khảo mô hình phân tích chi phí - lợi nhuận giữa muối truyền thống và muối trải bạt ô kết tinh, từ đó lập phương án vay vốn đổi mới kỹ thuật, cơ giới hóa khâu vận chuyển và nâng cao năng lực đàm phán giá với thương lái.
- Giảng viên, học viên cao học và nhà nghiên cứu kinh tế nông nghiệp: Cung cấp nguồn tài liệu tham khảo học thuật chuyên sâu về phương pháp luận đánh giá năng lực cạnh tranh cụm ngành cấp địa phương; làm cơ sở dữ liệu nền tảng cho các nghiên cứu tiếp nối về chuỗi giá trị nông sản và thích ứng biến đổi khí hậu khu vực ven biển Đông Nam Bộ.
Câu hỏi thường gặp
-
Điểm khác biệt lớn nhất về chất lượng giữa muối Bà Rịa và các vùng muối khác là gì?
Muối Bà Rịa được sản xuất trên nền da rong tự nhiên kết hợp điều kiện thổ nhưỡng đất sét mặn đặc thù, giúp giảm thiểu hàm lượng tạp chất không tan xuống 0,14% (thấp hơn 4 lần so với Ninh Thuận) và hàm lượng magie chỉ 0,20%. Nhờ đó hạt muối có màu trắng xám sáng, không bị ánh vàng và mang vị mặn dịu thuần khiết không chát, trở thành nguyên liệu duy nhất tạo nên hương vị đặc trưng của nước mắm Phú Quốc.
-
Tại sao mô hình muối sạch trải bạt mang lại lợi nhuận cao nhưng diêm dân chậm chuyển đổi?
Dù mô hình trải bạt nâng lợi nhuận lên gần 100 triệu đồng/ha (cao hơn gần 54 triệu đồng/ha so với làm muối truyền thống), rào cản lớn nhất là chi phí mua bạt nhựa ban đầu rất lớn trong khi giá muối trên thị trường biến động thất thường. Bên cạnh đó, việc thiếu vốn vay ưu đãi dài hạn và tâm lý sợ rủi ro khiến đa số hộ gia đình chưa mạnh dạn đầu tư chuyển đổi.
-
Việc chậm xây dựng chỉ dẫn địa lý gây ra những thiệt hại kinh tế cụ thể nào?
Do chưa được bảo hộ chỉ dẫn địa lý, thương hiệu Muối Bà Rịa bị nhiều thương lái trục lợi bằng cách pha trộn hoặc nhập muối chất lượng thấp từ các tỉnh khác về đóng nhãn giả mạo. Điều này làm xói mòn uy tín trên thị trường, đẩy giá thu mua muối thực tế của diêm dân xuống thấp và là nguyên nhân trực tiếp khiến lượng muối tồn đọng năm 2016 lên tới 37.518 tấn.
-
Ngành muối Bà Rịa - Vũng Tàu có lợi thế gì để phát triển sản xuất muối công nghiệp?
Tỉnh sở hữu 305 km bờ biển có độ mặn 3,2% - 3,5%, bức xạ nhiệt dồi dào và tiếp giáp ngay cụm cảng nước sâu Cái Mép - Thị Vải cùng hệ thống đường bộ kết nối thông suốt với các khu công nghiệp hóa chất miền Đông Nam Bộ. Theo Quyết định 4513/QĐ-BNN-CB, tỉnh được quy hoạch đạt sản lượng 150.000 tấn muối công nghiệp vào năm 2030 nhằm thay thế nguồn muối nhập khẩu.
-
Chính quyền địa phương cần làm gì để bảo đảm thu nhập ổn định cho hơn 1.400 lao động làm muối?
Chính quyền cần hỗ trợ thành lập các hợp tác xã kiểu mới để làm cầu nối ký kết hợp đồng tiêu thụ trực tiếp với các nhà thùng nước mắm, loại bỏ các khâu trung gian ép giá. Đồng thời, cần đẩy nhanh giải ngân nguồn vốn 42,34 tỷ đồng hoàn thiện hạ tầng điện, giao thông nội đồng và cung cấp chính sách hỗ trợ giá tạm trữ muối khi thị trường xảy ra khủng hoảng dư thừa.
Kết luận
- Luận văn xác lập cơ sở khoa học khẳng định chất lượng vượt trội của hạt muối Bà Rịa với hàm lượng tạp chất 0,14% và magie 0,20%, giữ vai trò nguyên liệu then chốt cho ngành chế biến nước mắm truyền thống.
- Nhận diện toàn diện các điểm nghẽn của cụm ngành gồm: tỷ lệ muối sạch mới đạt 18 ha, lượng muối tồn đọng chiếm 48% sản lượng, kênh phân phối qua thương lái chiếm trên 64% và lực lượng lao động suy giảm còn 1.462 người.
- Khẳng định tính cấp bách của việc xây dựng Chỉ dẫn địa lý "Muối Bà Rịa" nhằm ngăn chặn nạn làm giả thương hiệu và bảo vệ giá trị kinh tế cho 717 hộ diêm dân.
- Định hướng chiến lược phát triển cụm ngành muối theo hướng công nghiệp hóa, gắn kết với hệ thống hạ tầng 42,34 tỷ đồng và hướng tới mục tiêu 150.000 tấn muối công nghiệp vào năm 2030.
- Luận văn đóng góp khung phân tích thực chứng hoàn chỉnh theo mô hình Kim cương Porter, cung cấp hàm ý chính sách giá trị cho công tác quản lý công và phát triển cụm ngành nông nghiệp địa phương.
Trong giai đoạn 2019 - 2025, các cơ quan quản lý cần khẩn trương hoàn thiện thể chế bảo hộ thương hiệu, mở rộng tín dụng khuyến diêm và thu hút doanh nghiệp đầu tàu liên kết tiêu thụ. Luận văn là tài liệu tham khảo thiết thực cho các nhà hoạch định chính sách, doanh nghiệp và nhà nghiên cứu trong việc chung tay thúc đẩy ngành muối Bà Rịa - Vũng Tàu phát triển bền vững và nâng tầm vị thế cạnh tranh.